TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY TỈNH THÁI BÌNH Bản án số: 57/2023/HNGĐ-ST Ngày 28-8-2023 V/v: Xin ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Xuân Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thúy và ông Phan Văn Tiến
Thư ký phiên toà: Bà Lê Nhật Khánh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Xuân Mai - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 156/2023/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2023 về việc xin ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Giang Kim Tr, sinh năm 1990; HKTT: Thôn P, xã TTr, huyện T, tỉnh Thái Bình; Hiện đang ở: Thôn V, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn P, xã TTr, huyện T, tỉnh Thái Bình.
(Chị Tr và anh T1 đều có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/6/2023 và tại bản tự khai, các đơn trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Giang Kim Tr trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T1 tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 22/01/2013 tại Ủy ban nhân dân xã TTr, huyện T, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do là bất đồng quan điểm sống, lối sống dẫn đến thường xuyên cãi nhau, dần dần dẫn đến hai vợ chồng không còn tình cảm. Nguyên nhân mâu thuẫn trở nên trầm trọng, hai bên khonng còn yêu thương, quan tâm chăm sóc lẫn nhau nên đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc Trung.
Về con chung: Chị Tr và anh T1 có hai con chung là Nguyễn Ngọc Đại Th, sinh ngày 14/10/2013 và Nguyễn Ngọc Khánh Ch, sinh ngày 04/11/2019, hiện nay cả hai con chung đều đang học tập sinh sống cùng chị và chị xác nhận các cháu đều rất trưởng thành, phát triển tốt cả về thể chất, tinh thần. Ly hôn chị Tr đề nghị giao cả hai con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng và chị không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị Tr và anh T1 không có nợ chung, không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản. Vì lý do công việc nên chị đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt chị tại phiên tòa sơ thẩm.
Theo bản tự khai và các đơn đề nghị, bị đơn – anh Nguyễn Ngọc T1 trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh T1 xác nhận thời gian, điều kiện và hoàn cảnh kết hôn như chị Tr trình bày là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống về cách sinh hoạt và khác biệt quá lớn về cách sống nên không cùng suy nghĩ với nhau, vợ chồng thường xuyên cãi vã dẫn đến cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc. Mâu thuẫn căng thẳng nhất từ tháng 3/2020, anh và chị Tr đã sống ly thân và từ đó đến nay hai anh chị không còn quan tâm hỏi han đến nhau nữa. Nay chị Tr xin ly hôn, anh thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đồng ý ly hôn với chị Tr. Anh đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy không tiến hành hòa giải và giải quyết cho anh được vắng mặt tại các buổi làm việc của Tòa án và phiên tòa xét xử sơ thẩm.
Về con chung: Anh và chị Tr có hai con chung Nguyễn Ngọc Đại Th, sinh ngày 14/10/2013 và Nguyễn Ngọc Khánh Ch, sinh ngày 04/11/2019, hiện nay cả hai con chung đều đang sống cùng chị Tr và đều có nguyện vọng ở với mẹ nên anh đề nghị giao hai con chung cho chị Tr nuôi dưỡng và anh không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Anh chị không có nợ chung, không có tài sản chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy phát biểu quan điểm tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của các đương sự đều tuân thủ theo đúng quy định của bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình xử cho chị Giang Kim Tr được ly hôn anh Nguyễn Ngọc T1; Về quan hệ con chung: Giao cho chị Tr trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung là Nguyễn Ngọc Đại Th, sinh ngày 14/10/2013 và Nguyễn Ngọc Khánh Ch, sinh ngày 04/11/2019, chấp nhận việc chị Tr không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con. Anh T1 có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con được đặt ra khi các đương sự có yêu cầu theo quy định của pháp luật; Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị Tr không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra giải quyết. Chị Tr phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thẩm quyền: Bị đơn đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã TTr, huyện T, tỉnh Thái Bình, trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn không thay đổi nơi cư trú vì vậy đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, chị Giang Kim Tr và anh Nguyễn Ngọc T1 đều có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các bên đương sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Tr và anh T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TTr, huyện T, tỉnh Thái Bình và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 03 ngày 22/01/2013. Tại thời điểm kết hôn, anh chị đủ điều kiện kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, trong quá trình chung sống vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã. Anh chị đã ly thân từ năm 2020 đến nay không quan tâm hỏi han nhau cũng không có biện pháp gì để hàn gắn hôn nhân. Quá trình giải quyết vụ án anh T1 cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị Tr xin ly hôn anh cũng đồng ý và đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vì anh thấy vợ chồng không thể đoàn tụ với nhau. Như vậy, Hội đồng xét xử xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Tr và anh T1 đã ở mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, chị Tr xin ly hôn cần xử cho chị Tr được ly hôn anh T1 là phù hợp với thực tế và quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[4] Về quan hệ con chung: Chị Tr và anh T1 đều xác định vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Ngọc Đại Th, sinh ngày 14/10/2013 và Nguyễn Ngọc Khánh Ch, sinh ngày 04/11/2019. Ly hôn chị Tr có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung Th và Ch, chị Tr không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung. Anh T1 cũng đồng ý với đề nghị của chị Tr vì hiện nay hai cháu đang được chị Tr nuôi dưỡng. Xét nguyện vọng của các đương sự trong vụ án cũng như cháu Th có đơn xin ở với mẹ, để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển mọi mặt của hai con chung, căn cứ vào các điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thấy cần giao hai con chung Nguyễn Ngọc Đại Th và Nguyễn Thị Khánh Ch cho chị Tr trực tiếp nuôi dưỡng và chấp nhận đề nghị của chị Tr về việc không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con được đặt ra khi các đương sự có yêu cầu theo quy định của pháp luật.
[5] Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị Tr và anh T1 đều xác nhận không có nợ chung, không có tài sản chung và đều không yêu cầu giải quyết về tài sản, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết về quan hệ tài sản.
[6] Về án phí: Chị Tr phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí lệ phí Tòa án.
[7] Về quyền kháng cáo: Chị Tr và anh T1 có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật tại các Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án;
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Giang Kim Tr được ly hôn anh Nguyễn Ngọc T1.
- Về con chung: Chị Tr và anh T1 có hai con chung là Nguyễn Ngọc Đại Th, sinh ngày 14/10/2013 và Nguyễn Ngọc Khánh Ch, sinh ngày 04/11/2019. Ly hôn, giao cho chị Giang Kim Tr được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung là Nguyễn Ngọc Đại Th và Nguyễn Ngọc Khánh Ch, chị Tr không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung, yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng cho con chung theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị Giang Kim Tr phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, chuyển số tiền 300.000đ chị Tr đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005406 ngày 01/8/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thái Thụy sang thi hành án phí, nghĩa vụ chịu án phí của chị Tr đã thực hiện xong.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Xuân Quỳnh |
Bản án số 57/2023/HNGĐ-ST ngày 28/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về xin ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn
- Số bản án: 57/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRanh chấp hôn nhân gia đình
