Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2024/HS-ST

Ngày: 28 - 6 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Bình

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hải Nam

Bà Dương Thị Huệ

- Thư ký phiên tòa: Bà Bằng Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn M, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1971 tại huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm T, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn C (đã chết) và bà Ngô Thị T (đã chết); Vợ: Lê Thị Đ (đã chết); Con: có 02 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 1993.

Tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 11/02/2022, Công an huyện Đ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, mức phạt 2.000.000đ.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2023 cho đến nay. Hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.

( Bị cáo có mặt tại phiên tòa )

- Người chứng kiến:

+ Ông Ngô Nguyên C1, sinh năm 1972, trú tại: Tổ H, phường T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; (Vắng mặt)

+ Bà Bùi Thị H, sinh năm 1961, trú tại: Tổ H, phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 22/12/2023, tổ công tác Công an phường T tuần tra đảm bảo an ninh trật tự tại khu vực tổ H, phường T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên phát hiện Trần Văn Mười đang ngồi trên chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 20B2 – 384.60 có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra hành chính, khi bị kiểm tra, Nam thanh niên tự nguyện giao nộp 01 túi nilon màu trắng, bên trong đều chứa chất bột màu trắng đục, M khai nhận là ma túy, M mới mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tiến hành niêm phong số vật chứng nêu trên. Ngoài ra, còn tạm giữ của M 01 xe mô tô BKS: 20B2 – 384.60; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A93, màu đen, cùng ngày Công an phường T đã bàn giao hồ sơ vụ án đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S giải quyết theo thẩm quyền.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã trưng cầu giám định số chất bột màu trắng thu giữ của Trần Văn M. Tại bản Kết luận giám định số 96/KL-KTHS ngày 30/12/2023 của Phòng K - Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là: 0,293 gam.

Quá trình điều tra Trần Văn M khai nhận: Bản thân M sử dụng ma túy loại Heroine từ năm 2020 cho đến nay, vào khoảng 11 giờ ngày 22/12/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy, M sử dụng chiếc điện thoại di động OPPO A93 của mình gọi điện cho một người đàn ông có số điện thoại 0379.591.xxx (Mười xin của bạn nghiện), mục đích để hỏi mua ma tuý về sử dụng, sau đó được người này cho số điện thoại là 0961.554.xxx để M liên hệ mua ma túy Heroine. M gọi đến số điện thoại trên thì có một người đàn ông nghe máy, qua trao đổi, M nói muốn mua ma tuý, người nam giới đồng ý bán ma tuý cho M và hẹn địa điểm giao dịch tại khu vực trường C2 (thuộc phường T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên). Sau đó, M điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 20B2-384.60 đi đến cổng trường C2 để mua ma tuý. M đứng chờ khoảng 10 phút thì có một người đàn ông đeo khẩu trang, đi xe mô tô kiểu dáng Dream đến gặp M và hỏi “có phải nãy anh gọi em không”, M nói “phải”, người nam giới đưa cho M 01 (một) gói ni lông màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng, biết đó là ma túy heroine nên M lấy 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền mặt trả cho người đó. Sau khi người này nhận tiền rồi điều khiển xe mô tô rời đi, M cũng cất gói heroine vừa mua vào trong túi áo khoác bên phải đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi tìm nơi sử dụng. Khi đi đến khu vực tổ H, phường T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên thì bị tổ công tác của Công an phường T, thành phố S kiểm tra phát hiện, bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án .

Vật chứng của vụ án gồm: 01 bì niêm phong ký hiệu A1 chứa 0,282 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu; 01 bì niêm phong ký hiệu A2 chứa vỏ bì niêm phong ký hiệu A và túi nilon; 01 bì niêm phong ký hiệu B chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A93 màu đen; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ đen, BKS 20B2-384.60 mang tên Trần Văn M được chuyển bảo quản theo đúng quy trình quản lý vật chứng.

Tại bản cáo trạng số 52/CT-VKS ngày 29/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công đã truy tố bị cáo Trần Văn M tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Trần Văn M về tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; xử phạt Trần Văn M từ 18 đến 24 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Về vật chứng, áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu huỷ: 01 bì niêm phong ký hiệu A1 chứa 0,282 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu; 01 bì niêm phong ký hiệu A2 chứa vỏ bì niêm phong ký hiệu A và túi nilon. Tịch thu sung công quỹ 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A93 màu đen của Trần Văn M. Trả lại cho bị cáo Trần Văn M 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ đen, BKS 20B2-384.60 tuy nhiên cần tạm giữ để thi hành án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, không có ý kiến tranh luận, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Kết luận điều tra và cáo trạng truy tố, bị cáo đã nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo nói lời sau cùng, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại giai đoạn điều tra và phiên tòa, bị cáo Trần Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi, diễn biến nội dung sự việc đúng như nội dung kết luận điều tra và cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người chứng kiến, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ xác định: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 22/12/2023, tại khu vực tổ dân phố H, phường T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Trần Văn M đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,293 gam ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác thuộc Công an phường T, thành phố S phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Văn M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Nội dung điều luật quy định:

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...c) Heroine ...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ...”.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công truy tố bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

[3] Đánh giá về tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

3.1. Về tính chất hành vi phạm tội: Bị cáo Trần Văn M thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng chất ma tuý, gây mất trật tự an toàn xã hội.

3.2. Về nhân thân: Bị cáo M sinh ra, lớn lên tại địa phương, được gia đình nuôi ăn học hết lớp 05/12, làm lao động tự do. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, làm chủ được hành vi của mình, tuy nhiên thiếu tu dưỡng rèn luyện, nên mắc vào tệ nạn ma tuý dẫn đến phạm tội. Bị cáo có 01 tiền sự, ngày 11/02/2022 bị Công an huyện Đ, thành phố T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính mức phạt 2.000.000đ, bị cáo đã được gia đình thông báo, đã biết về việc bị xử phạt vi phạm hành chính, tuy nhiên bị cáo đi làm ăn xa nên chưa chấp hành khoản tiền phạt 2.000.000đồng. Nay bị cáo lại tiếp tục có hành vi cất giấu trái phép 0,293 gam chất ma tuý, loại Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy với tình tiết định khung quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự.

3.3. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Văn M1 được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là người phạm tội thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất của vụ án, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi đó gây nguy hiểm cho xã hội, là một trong các nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn xã hội và tội phạm về ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội tại địa phương nên cần phải xét xử các bị cáo bằng án phạt tù nghiêm khắc, buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian theo đề nghị của Viện kiểm sát mới đủ điều kiện để giáo dục đối với bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội, đồng thời góp phần phòng ngừa, giáo dục chung. Hội đồng xét xử sẽ xem xét, cân nhắc xét xử bị cáo Trần Văn M mức án phạt tù phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Trần Văn M mua ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân, nên xét không cần thiết áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[4] Về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn: Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.

[5] Về vật chứng và đồ vật liên quan trong vụ án: Đối với số ma túy thu giữ của Trần Văn M còn lại sau giám định và một số đồ vật liên quan đến việc sử dụng ma túy đang được bảo quản tại Cơ quan thi hành án dân sự là vật Nhà nước cấm lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A93 màu đen, bị cáo dùng để liên lạc mua ma túy sử dụng, liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ đen, BKS 20B2-384.60 là tài sản hợp pháp của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo quản lý sử dụng.

[6] Về án phí: Bị cáo Trần Văn M bị kết án, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

[8] Đối với người bán ma túy cho Trần Văn M có số điện thoại 0961.554.xxx, Cơ quan điều tra Công an thành phố S đã xác minh làm rõ chủ sở hữu số thuê bao trên là Lý Việt A, sinh năm 1996, trú quán xóm B, xã V, thành phố P, kết quả điều tra xác định Việt A không liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy, ngoài ra M không biết tên, tuổi, địa chỉ của người bán ma túy cho mình nên không xem xét.

Đối với chủ sở hữu số điện thoại 0379.591.xxx qua xác minh không có thông tin cá nhân nên không có cơ sở làm rõ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

Áp dụng:

Điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

* Xử phạt: Bị cáo Trần Văn M 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2023.

* Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Trần Văn M.

2. Về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn:

Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Văn M 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo cho việc thi hành án.

3. Về vật chứng của vụ án:

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy:

  • +) 01 bì niêm phong ký hiệu A1 chứa 0,282 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu.
  • +) 01 bì niêm phong ký hiệu A2 chứa vỏ bì niêm phong ký hiệu A và 01 túi nilon;

- Tịch thu sung công quỹ: 01 bì niêm phong ký hiệu hiệu B chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A93 màu đen, số IMEI 868057058335259 đã qua sử dụng.

- Trả lại bị cáo Trần Văn M 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đỏ đen, BKS 20B2-384.60, số máy: JA52E0207181, số khung: 3846LY105044, đã qua sử dụng.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/6/2024 giữa Công an thành phố S và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sông Công).

4. Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Trần Văn M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

5. Về quyền kháng cáo:

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo Trần Văn M, báo cho biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND TP. Sông Công;
  • - Công an TP Sông Công;
  • - Chi cục THADS TP Sông Công.
  • - Bị cáo;
  • - UBND xã, phường nơi cư trú của bị cáo.
  • (Thông báo kết quả xét xử);
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/HS-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 57/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 1. Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng: Điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). * Xử phạt: Bị cáo Trần Văn M 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2023.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger