Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 57/2024/HN&GD-ST

Ngày: 28 - 6 - 2024

V/v: Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN DÂN NHÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Lẫm.
  • - Các hội thẩm nhân dân:
    • Ông Lê Minh Thật.
    • Bà Lê Thị Mỹ Linh.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tiên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 42/2024/TLST - HN&GĐ ngày 05/3/2024 vụ án " Tranh chấp ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 57/2024/QĐST – HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thanh T, sinh năm: 1984.
  2. Địa chỉ: Ấp T, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long. Có mặt.

  3. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm: 1988.
  4. Địa chỉ: Ấp C, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 20/02/2024 và tại phiên toà nguyên đơn chị Lê Thị Thanh T trình bày: Vào năm 2015 chị và anh Nguyễn Văn K kết hôn và có đăng ký kết hôn ngày 24/7/2015 tại Ủy ban nhân xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, anh K cờ bạc, không lo lắng cho gia đình, chị và anh K đã ly thân từ năm 2019 đến nay. Do vợ chồng không còn tình cảm nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh K.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Kim A (nữ), sinh ngày 07/11/2018, con chung hiện do chị nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, chưa yêu cầu anh K cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn K đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên chưa có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục: Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn K đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt anh K.

[2] Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Thanh T và anh Nguyễn Văn K kết hôn năm 2015 và có đăng ký kết hôn ngày 24/7/2015 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long theo đúng quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh K là hợp pháp được pháp luật công nhận là vợ chồng. Chị T và anh K chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn tại phiên toà chị T trình bày là do bất đồng quan điểm, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, anh K cờ bạc, không lo lắng cho gia đình. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải để hàn gắn lại cuộc sống vợ chồng giữa chị T và anh K nhưng tại phiên toà chị T vẫn cương quyết xin ly hôn với anh K. Điều đó cho thấy tình nghĩa vợ chồng giữa chị T và anh K không thể hàn gắn được, vợ chồng không còn quan tâm, yêu thương chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị T là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về con chung: Chị T và anh K có 01 con chung tên Nguyễn Kim A (nữ), sinh ngày 07/11/2018, con chung hiện do chị T nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị T yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, chưa yêu cầu anh K cấp dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy từ khi ly thân năm 2019 đến nay con chung do chị T nuôi dưỡng, để không làm xáo trộn cuộc sống thường ngày của cháu Kim A nên Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Kim A cho chị T nuôi dưỡng là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Đương sự còn phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

[7] Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 5, 28, 35, 147, 227, 228, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ vào Điều 9, 53, 56, 57, 81, 82, 83, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tuyên xử:

  • Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Thanh T. Cho chị Lê Thị Thanh T được ly hôn với anh Nguyễn Văn K.
  • Về con chung: Tiếp tục giao cháu Nguyễn Kim A (nữ), sinh ngày 07/11/2018 cho chị Lê Thị Thanh T nuôi dưỡng, anh Nguyễn Văn K chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm nom, chăm sóc con chung cho anh Nguyễn Văn K không ai được quyền cản trở.
  • Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
  • Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Lê Thị Thanh T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), chuyển 300.000 đồng chị T đã nộp theo biên lai thu số 0009991 ngày 05/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Mỹ thành án phí. Chị T đã nộp xong.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn chị Lê Thị Thanh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 28/6/2024. Bị đơn anh Nguyễn Văn K được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - Các đương sự;
  • - VKSND h Long Mỹ;
  • - Chi cục THADS h Long Mỹ;
  • - UBND xã Nhơn Bình, h Trà Ôn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Lẫm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/HN&GD-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 57/2024/HN&GD-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị T yêu cầu ky hôn với anh K
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger