|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số:57/2024/HS-ST Ngày: 28-6-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Bốn;
Ông Cao Văn Thịnh.
Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Lê Huân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Tuất - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2024/TLST - HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:57/2024/QĐXXST - HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Xuân S, sinh năm 1997; tại xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Xóm C, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con Trần Xuân Q (đã chết) và bà Đinh Thị S1; vợ Cao Thị H, có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 26-02-2019 bị Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chấp hành án xong hình phạt 04-02-2021; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29-02-2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện G “có mặt”.
- Người chứng kiến: Ông Đinh Văn M và bà Nguyễn Thị T “đều vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 16 giờ ngày 29-02-2024, tổ tuần tra của Công an xã G, huyện G phối hợp với Đội cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế Ma tuý - Công an huyện G làm nhiệm vụ tại khu vực đầu dong xóm C, xã G, huyện G phát hiện Trần Xuân S, sinh năm: 1997 trú tại xóm C, xã G, huyện G đang dừng xe máy có biểu hiện nghi vấn. Tổ tuần tra đã yêu cầu kiểm tra hành chính đối với S. Quá trình kiểm tra, S tự giác giao nộp cho lực lượng công an 01 ống nhựa nhỏ màu trắng được bịt kín hai đầu, bên trong có chứa các hạt tinh thể, S khai nhận đó là ống ma tuý đá của S cất giấu với mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ tuần tra đã mời người chứng kiến đưa S cùng vật chứng về trụ sở Ủy ban xã G tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang; thu giữ vật chứng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M, 01 xe máy BKS 89B1-93314 đã qua sử dụng.
Về nguồn gốc số ma túy thu giữ của Trần Xuân S, S khai nhận vào khoảng 09 giờ ngày 27/02/2024, S đến khu vực xóm S, xã G mua của một nam thanh niên đứng ở ven đường (S không biết tên, tuổi, địa chỉ) 01 túi nilong đựng ma túy đá với giá 1500.000 đồng, sau đó S mang túi ma tuý đá về nhà sử dụng nhiều lần vào các ngày 27, 28, 29/02/2024 tại gian nhà kho cạnh phòng ngủ của S. Phần ma tuý còn lại S bỏ vào ống nhựa và cất vào trong túi áo đang mặc
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Xuân S tại xóm C, xã G. Cơ quan CSĐT Công an huyện G thu giữ trên nền nhà kho cạnh phòng ngủ của S 01 chai nhựa màu trắng loại 330ml có chữ Sting, nắp chai màu vàng, trên nắp chai có gắn 01 đoạn ống nhựa màu trắng và 01 đoạn ống thuỷ tinh, đều đã qua sử dụng.
Cơ quan CSĐT Công an huyện G đã tiến hành trưng cầu giám định đối với mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng đã thu giữ của Trần Xuân S được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M.
Tại bản kết luận giám định số: 540/KL-KTHS ngày 04-3-2024 của Phòng K - Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01(một) đoạn ống nhựa nhỏ màu trắng, được bịt kín hai đầu, kích thước khoảng (1x4)cm, được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma tuý. Loại ma tuý: Methamphetamine. Khối lượng mẫu M: 0,168 gam.”.
Tại bản Cáo trạng số: 56/CT-VKS- GT ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định đã truy tố Trần Xuân S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Trần Xuân S đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình như đã nêu trên.
Kiểm sát viên luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Xuân S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Xuân S từ 21 đến 24 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung; xử lý vật chứng, căn cứ khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định, 01 chai nhựa màu trắng loại 330ml có chữ Sting, nắp chai màu vàng, trên nắp chai có gắn 01 đoạn ống nhựa màu trắng và 01 đoạn ống thuỷ tinh, đều đã qua sử dụng. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt và miễn hình phạt bổ sung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì; do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ của vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Ngày 29-02-2024, Trần Xuân S đã có hành vi cất giấu trong người 0,168 gam ma tuý Methamphetamine để sử dụng cho bản thân thì bị tổ tuần tra của Công an xã G, huyện G phối hợp với Đội cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế Ma tuý - Công an huyện G làm nhiệm vụ tại khu vực đầu dong xóm C, xã G, huyện G phát bắt quả tang. Như vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức ma túy là hiểm họa của mỗi gia đình và cộng đồng xã hội là một trong những nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội, gia tăng tội phạm hình sự, xâm phạm tới đạo đức và sức khỏe con người. bản thân bị cáo đã từng bị chấp hành 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà vẫn cố ý thực hiện hành vi đi mua ma túy cất giấu để sử dụng cho bản thân dẫn đến phạm tội. Do đó, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc buộc bị cáo phải đi tập trung cải tạo một thời gian để giáo dục riêng đối với bị cáo và đáp ứng công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 500.000.000 đồng....”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người nghiện ma túy, điều kiện kinh tế khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma tuý hoàn trả mẫu vật sau giám định.
- - Đối với 01 chai nhựa màu trắng loại 330ml có chữ Sting, nắp chai màu vàng, trên nắp chai có gắn 01 đoạn ống nhựa màu trắng và 01 đoạn ống thuỷ tinh là dụng cụ S dùng để sử dụng ma tuý đá đã thu giữ tịch thu cho tiêu huỷ.
- - Đối với 01 xe máy BKS 89B1-93314 thu giữ của S, S khai mượn của anh Nguyễn Văn T1 sinh năm 1999 trú tại xóm E, xã G, huyện G . Qua xác minh hiện nay anh T1 không có mặt tại địa phương và không thể liên lạc được với anh T1. Qua tra cứu chiếc xe trên không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng, xe có đăng ký chính chủ mang tên Đào Mạnh H1 địa chỉ tại xã Đ, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Cơ quan CSĐT Công an huyện G đã uỷ thác điều tra nhưng chưa có kết quả. Do chưa xác định được chủ sở hữu chiếc xe trên nên Cơ quan CSĐT Công an huyện G đã tách chiếc xe ra để điều tra, xử lý sau là phù hợp.
[7] Về nguồn gốc số ma tuý quá trình điều tra không đủ căn cứ kết luận ai là người bán ma túy cho bị cáo nên không có cơ sở xem xét, xử lý.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị Quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Xuân S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Trần Xuân S 02 (hai) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 29-02-2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Methamphetamine hoàn trả mẫu vật sau giám định và 01 chai nhựa màu trắng loại 330ml có chữ Sting, nắp chai màu vàng, trên nắp chai có gắn 01 đoạn ống nhựa màu trắng, 01 đoạn ống thuỷ tinh (chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng số: 71 lập ngày 06-6-2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định).
- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Xuân S phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Trần Xuân S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thanh Lâm |
Bản án số 57/2024/HS-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 57/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Xuân S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Trần Xuân S 02 (hai) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 29-02-2024.