|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 57/2024/ DS - ST Ngày: 27 - 8 - 2024 “V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nghi
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Lâm
Ông Lê Lý Bằng
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Thị Khánh Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Ngô Tiến Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 27/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc xét xử sơ thẩm vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2024/TLST - DS ngày 24/4/2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXX ST - DS ngày 22/7/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số : 21/2024/QÐST- DS ngày 08/8/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q (viết tắt V1).
Địa chỉ: Tầng A và tầng B tòa nhà S, số A P, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên hệ: Tầng A tòa nhà C, số D T, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V – Chức vụ: Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Q.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hải Đ – Chức vụ: Giám đốc xử lý ngoại bảng.
Người được ủy quyền lại: Ông Hoàng Đức M – Cán bộ Ngân hàng.
Địa chỉ: Số F B, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1982. (vắng mặt)
Ông Bùi Văn P, sinh năm: 1976 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
NHẬN THẤY
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời trình bày tại phiên tòa sơ thẩm, Ngân hàng TMCP Q, mà người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng yêu cầu giải quyết các vấn đề sau:
Ngày 28/11/2017 bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Văn P đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 418CN805HĐTD ngày 28/11/2017 với Ngân hàng TMCP Q (viết tắt V1). Số tiền vay: 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng), theo đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số: 418CN805KUNN ngày 29/11/2017, thời hạn vay là 60 tháng, từ ngày 30/11/2017 đến ngày 29/11/2022; mục đích vay: Sửa chữa nhà ở trên nền đất cũ (Bao gồm mua sắm trang thiết bị tiêu dùng); lãi suất: 9.29%/năm. Mức lãi suất quy đổi từ cơ sở một năm 360 ngày sang cơ sở một năm có 365 ngày là: 9.42%/năm. Lãi suất ưu đãi và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản vay. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở cộng biên độ 4.19%/năm, hình thức giải ngân nhận tiền mặt.
Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Văn P đã trả cho V1 số tiền gốc và lãi là: 217.160.711 đồng, trong đó tiền gốc là 150.030.000 đồng và tiền lãi là 67.130.711 đồng. Từ ngày 08/06/2019 bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Văn P1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi cho V1, nên toàn bộ khoản vay còn lại bị chuyển nợ quá hạn. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm, bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Văn P còn nợ VIB tổng cộng số tiền là: 709.944.319 đồng, cụ thể: Nợ gốc quá hạn là 349.970.000 đồng, tiền lãi trong hạn trên nợ gốc là 81.451.061 đồng, tiền nợ lãi quá hạn trên nợ gốc là 278.523.258 đồng.
Sau khi phát sinh nợ quá hạn, V1 đã đôn đốc, tạo điều kiện cho bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Văn P thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Văn P vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ và đã gây ảnh hưởng lớn đến quyền và lợi ích hợp pháp của V1.
Về tài sản thế chấp: Để bảo đảm khoản vay bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Văn P đã thế chấp tài sản là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tại thửa đất số: 326a, tờ bản đồ số 5, diện tích 71m², địa chỉ thửa đất: xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AA 425125, số vào sổ cấp GCN quyền sử dụng đất: 01924QSDĐ do UBND huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 30/10/2004 cho hộ ông Bùi Văn P. Hợp đồng thế chấp được công chứng số: 418CN805HĐTC ngày 28/11/2017, số công chứng: 10155, quyển số: 04/2017.TP/CC-SCC/HĐGD do văn phòng C, tỉnh Thanh Hóa, được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện H, tỉnh Thanh Hóa, ngày 20/11/2017 đã được xác nhận thay đổi thông tin ông Bùi Văn P và bà Nguyễn Thị T là chủ sử dụng đất.
Nay Ngân hàng TMCP Q (V1) đề nghị giải quyết: Buộc bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Văn P phải trả Ngân hàng TMCP Q (V1), tính đến ngày 27/8/2024 ông P, bà T còn nợ VIB tổng số tiền là: 709.944.319 đồng, trong đó: Nợ gốc: 349.970.000 đồng, Nợ lãi: 81.451.061 đồng, N lãi quá hạn: 278.523.258 đồng. Đề nghị Tòa án tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn theo Hợp đồng tín dụng và theo quy định của pháp luật kể từ ngày 27/8/2024 cho đến ngày ông Bùi Văn P và bà Nguyễn Thị Thu thanh t toàn bộ khoản vay.
Trường hợp bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Văn P không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, thì V1 được yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại toàn bộ tài sản thế chấp. Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ nghĩa vụ trả nợ, đề nghị tòa án tuyên ông Bùi Văn P và bà Nguyễn Thị T phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho V1. Ngoài số tiền trả nợ theo Hợp đồng, V1 còn yêu cầu ông Bùi Văn P và bà Nguyễn Thị T phải hoàn trả khoản tiền chi phí tố tụng thẩm định tài sản trong quá trình giải quyết vụ án.
Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Văn P: Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn vắng mặt tại nơi cư trú, nên không có thông tin lời khai liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 03/7/2024, Tòa án phối hợp cùng địa phương đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp là QSD đất và tài sản gắn liền trên đất, mang tên ông Bùi Văn P, tại thôn T, xã H. Kết quả thẩm định xác định, tại thửa đất số 326a, tờ bản đồ số 5, diện tích 71m², địa chỉ thửa đất tại thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AA 425125, số vào sổ cấp GCN quyền sử dụng đất: 01924QSDĐ do UBND huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 30/10/2004 cho hộ ông Bùi Văn P, được Chi nhánh văn phòng Đ1 xác nhận thông tin cấp quyền cho ông Bùi Văn P. Thửa đất có tứ cận: Phía nam tiếp giáp nhà ông Tô Cao M1; Phía tây tiếp giáp nhà hộ dân thuộc thôn Đ; Phía bắc tiếp giáp thửa đất của bà Hỏa Thị X (mẹ đẻ ông Bùi Văn P); Phía đông tiếp giáp ngõ xóm đường rộng khoảng 02m, bên trong tường rào có khu chăn nuôi sập xệ. Tài sản xây dựng trên đất có đoạn tường rào phía đông, có cổng ngõ đi chung với thửa đất nhà bà Hỏa Thị X; Phía tây giáp đất của các hộ dân thuộc thôn Đ, có các công trình nhà vệ sinh khô; trên khuôn viên thửa đất có cây lưu niên ăn quả, chưa có nhà xây dựng kiên cố. Nguồn gốc thửa đất đứng tên ông P được tách ra từ thửa đất số 326 của bà Hỏa Thị X (có sơ đồ trích đo kèm theo).
Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn.
Kết thúc phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử vào nghị án là đầy đủ và đúng quy định của pháp luật TTDS. Đối với bị đơn, quá trình giải quyết vụ án không chấp hành pháp luật tố tụng, không hợp tác giải quyết vụ án và vắng mặt không có lý do.
Về hướng giải quyết vụ án Viện kiểm sát đề nghị: Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 288, Điều 351, Điều 401 và Điều 463 của Bộ luật dân sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn về lãi, lãi suất và phạt vi phạm. Đề nghị HĐXX:
Chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q. Buộc bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Văn P phải có trách nhiệm liên đới trả nợ cho VIB số tiền nợ gốc, nợ lãi trong hạn và lãi quá hạn đến ngày xét xử sơ thẩm và tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh chậm trả trên nợ gốc theo Hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán hết khoản tiền nợ gốc chậm trả.
Cụ thể tiền nợ gốc quá hạn theo HĐTD số 418CN805HĐTD ngày 28/11/2017. Tổng cộng: 709.944.319 đồng, trong đó tiền nợ gốc 349.970.000 đồng; tiền nợ lãi trong hạn trên nợ gốc 81.451.061 đồng và tiền nợ lãi quá hạn trên nợ gốc 278.523.258 đồng.
Trường hợp bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Văn P không tự nguyện thi hành án đối với số tiền phải thi hành, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự để thi hành đối với tài sản thế chấp 326a, tờ bản đồ số 5, diện tích 71m², địa chỉ thửa đất tại thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AA 425125, số vào sổ cấp GCN quyền sử dụng đất: 01924QSDĐ do UBND huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 30/10/2004 cho hộ ông Bùi Văn P. Ngày 20/11/2017 đã được xác nhận thay đổi thông tin ông Bùi Văn P và bà Nguyễn Thị T là chủ sử dụng đất.
Về chi phí tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đã nộp chi phí tố tụng cho việc thẩm định. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn phải hoàn trả lại số tiền chi phí tố tụng mà nguyên đơn đã nộp, theo quy định tại Điều 158 của BLTTDS.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 3 Điều 144 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Văn P có trách nhiệm liên đới chịu toàn bộ án phí dân sự có giá ngạch theo quy định của pháp luật. Trả lại cho V1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa. Trên cơ sở ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng và ý kiến phát biểu về giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định.
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Tranh chấp phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn là tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” giữa một bên là pháp nhân và bên vay là cá nhân, loại việc tranh chấp được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS.
[2]. Tại phiên tòa lần hai có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của BLTTDS Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn theo quy định của pháp luật tố tụng.
[3]. Xét yêu cầu khởi kiện: Ngày 28/11/2017 bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Văn P đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 418CN805HĐTD ngày 28/11/2017 với Ngân hàng TMCP Q (viết tắt V1), thời hạn vay là 60 tháng, từ ngày 30/11/2017 đến ngày 29/11/2022. Sau khi ký kết HĐTD, bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Văn P đã nhận được số tiền vay là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng), theo Khế ước nhận nợ số: 418CN805KUNN ngày 29/11/2017. Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Văn P đã trả cho V1 số tiền nợ gốc 150.030.000 đồng và tiền lãi là 67.130.711 đồng. Từ ngày 08/06/2019 bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Văn P1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi cho V1 nên khoản vay nợ gốc còn lại bị chuyển nợ quá hạn. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm, bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Văn P còn nợ VIB tổng cộng số tiền là: 709.944.319 đồng, cụ thể: Nợ gốc quá hạn là 349.970.000 đồng, tiền lãi trong hạn trên nợ gốc là 81.451.061 đồng, tiền nợ lãi quá hạn trên nợ gốc là 278.523.258 đồng. Nay VIB yêu cầu buộc bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Văn P phải trả toàn bộ số tiền nợ gốc, lãi là có căn cứ, phù hợp các Điều 275, Điều 288, Điều 351, Điều 401 và Điều 463 của Bộ luật dân sự 2015. Do là khoản nợ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân nên ông P, bà T phải có trách nhiệm liên đới trả toàn bộ tiền nợ gốc còn lại, nợ lãi trong hạn và nợ lãi quá hạn trên nợ gốc tính đến ngày xét xử sơ thẩm cho V1.
[4]. Xét yêu cầu xử lý tài sản thế chấp thấy: Tại Hợp đồng thế chấp tài sản giữa bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Văn P đã thế chấp tài sản là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tại thửa đất số: 326a, tờ bản đồ số 5, diện tích 71m², địa chỉ thửa đất: xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AA 425125, số vào sổ cấp GCN quyền sử dụng đất: 01924QSDĐ do UBND huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 30/10/2004 cho ông Bùi Văn P. Hợp đồng thế chấp được công chứng số: 418CN805HĐTC ngày 28/11/2017, số công chứng: 10155, quyển số: 04/2017.TP/CC-SCC/HĐGD do văn phòng C, tỉnh Thanh Hóa, được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện H, tỉnh Thanh Hóa, và đã được xác nhận thay đổi thông tin ông Bùi Văn P và bà Nguyễn Thị T là chủ sử dụng đất vào ngày 20/11/2017. Tại thời điểm thế chấp bên thế chấp không có thông tin tranh chấp, chuyển nhượng khác, được tổ chức thẩm định giá đối với tài sản bảo đảm. Như vậy, về giao dịch bảo đảm thế chấp bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất do các bên tự nguyện xác lập là đúng quy định tại các Điều 317, Điều 318 và phát sinh hiệu lực theo Điều 319 của Bộ luật Dân sự 2015.
[5]. Việc vắng mặt của bị đơn: Tại biên bản xác minh ngày 09/5/2024 và thông tin trong trong Hợp đồng tín dụng xác lập năm 2017 và Hợp đồng thế chấp tài sản bảo đảm số 418CN805HĐTC ngày 28/11/2017 và các tài liệu về nhân thân, hộ tịch thì bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Văn P là vợ chồng, có đăng ký nhân khẩu và có tài sản là nhà đất ở tại thôn T, xã N, huyện H. Khoảng từ năm 2017 đến nay, bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Văn P đã đi làm ăn không có mặt tại địa phương, hiện tại nhà đất tại thôn T nhờ người khác trông coi, không có ai thân thích ở để nhận thay văn bản tố tụng. Tòa án đã thực hiện tống đạt văn bản tố tụng cho bị đơn bằng hình thức niêm yết và được đăng, phát trên các số báo nhân dân ra các ngày 02/03 và 04/7/2024 và phát sóng trên Đ2 VOV vào các ngày 02/03 và 04/7/2024 nhưng đến ngày mở lại phiên tòa bị đơn vẫn không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án. Theo quy định tại khoản 4 Điều 173, khoản 2 Điều 179 và Điều 180 của BLTTDS được coi là tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng cho bị đơn. Căn cứ tại điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì việc vắng mặt của bị đơn được coi là cố tình giấu địa chỉ đối với nguyên đơn, cố tình trốn tránh nghĩa vụ, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án.
[6]. Về chi phí tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đã nộp chi phí tố tụng cho việc thẩm định. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn phải hoàn trả lại số tiền chi phí tố tụng mà nguyên đơn đã nộp, theo quy định tại Điều 158 của BLTTDS.
[7]. Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Căn cứ khoản 3 Điều 144 của BLTTDS; điểm b khoản 1 Điều 24 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Văn P phải có trách nhiệm liên đới chịu án phí có giá ngạch theo quy định của pháp luật. Đối với số tiền tạm ứng án phí của V1 đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự được trả lại.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 3 Điều 144, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 275, khoản 1 Điều 288, khoản 1 Điều 351, Điều 401 và Điều 463 của Bộ luật dân sự 2015.
Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng 2010 được sửa đổi bổ sung 2017 và Điều 103 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q.
- Buộc bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Văn P phải có trách nhiệm liên đới trả nợ cho Ngân hàng TMCP Q, tổng số tiền là: 709.944.319 đồng (Bảy trăm linh chín triệu chín trăm bốn mươi bồn nghìn ba trăm mười chín đồng).
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Văn P phải liên đới chịu về nghĩa vụ án phí có giá ngạch là 32.397.773 đồng (Ba mươi hai triệu ba trăm chín mươi bảy nghìn bảy trăm bảy mươi ba đồng). Trả lại cho Ngân hàng TMCP Q, số tiền tạm ứng án phí là 15.037.000 đồng, tại biên lai thu số 0003244 ngày 22/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc.
Về chi phí tố tụng: Áp dụng Điều 158 của BLTTDS. Buộc bị đơn phải hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền 3.000.000 đồng chi phí tố tụng. Trường hợp chậm hoàn trả thì phải chịu lãi suất theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi suất chậm trả trên nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng, tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.
Sau khi bản án có hiệu lực và nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Văn P không tự nguyện thi hành án đối với số tiền phải thi hành, thì Ngân hàng V1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự để thi hành đối với hiện trạng tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại thửa 326a, tờ bản đồ số 5, diện tích 71m², địa chỉ thửa đất tại thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AA 425125, số vào sổ cấp GCN quyền sử dụng đất: 01924QSDĐ do UBND huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 30/10/2004 cho hộ ông Bùi Văn P, đã được xác nhận thay đổi thông tin ông Bùi Văn P và bà Nguyễn Thị T là chủ sử dụng đất vào ngày 20/11/2017.
Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Nghi |
8
Bản án số 57/2024/ DS - ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 57/2024/ DS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
