|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 57/2024/HS - ST Ngày 27 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Thanh Mai
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Khảm
Ông Trần Văn Học
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đạo - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 54/2024/TLST - HS ngày 05 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXST - HS ngày 14 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn B, sinh ngày 09 tháng 02 năm 1980 tại xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị L (đã chết); có vợ là Ngọc Thị T và có 02 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2006; tiền án: Không; tiền sự: có 01 tiền sự: Ngày 16/5/2024, B bị UBND xã T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 285/QĐ-XPHC bằng hình thức phạt tiền là 3.500.000 đồng; biện pháp khắc phục hậu quả: buộc khôi phục lại trạng thái ban đầu của đất. Ngày 30/5/2024, B đã nộp phạt số tiền 3.500.000 đồng và đã khôi phục lại hiện trạng ban đầu của thửa đất, chưa được xóa tiền sự. Nhân thân: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện đang tại ngoại tại địa phương “có mặt”.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ quan: Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Thành N, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Văn C, chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (Theo văn bản ủy quyền ngày 21/8/2024) “có mặt”.
- Người làm chứng: Ông Mai Xuân K, sinh năm 1975 và anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1984.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Năm 1993, Hợp tác xã N1, xã T, huyện Y giao cho ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1955, trú tại thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc quản lý, sử dụng đối với thửa đất số 264, tờ bản đồ số 02 (Bản đồ 299) thuộc thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, loại đất: Nuôi trồng thủy sản (Ký hiệu: NTS), diện tích 897m², nguồn gốc: Đất do UBND xã T giao cho hộ gia đình, cá nhân quản lý, sử dụng. Sau đó, do phải đi làm ăn xa, thường xuyên không ở địa phương, ông Đ đã giao cho con trai là Nguyễn Văn B, sinh năm 1980, trú tại thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc quản lý, sử dụng thửa đất này. Tuy nhiên, B không canh tác, nuôi trồng gì trên diện tích thửa đất ao này. Nhận thấy diện tích thửa đất bị bỏ hoang lãng phí trong nhiều năm nên B nảy sinh ý định đổ đất, đá, gạch phế liệu vào bề mặt ao để san lấp làm mặt bằng. Ngày 15/4/2024, B đi xin đất, đá, gạch phế liệu ở nhiều nơi và tự vận chuyển rồi đổ vào thửa đất ao trong nhiều ngày. Đến ngày 13/5/2024, tổ công tác UBND xã T tiến hành kiểm tra tại thửa đất ao nêu trên của B, phát hiện B đã thực hiện hành vi đổ đất, đá phế liệu vào thửa đất ao với diện tích 80m², tổ công tác UBND xã T đã lập biên bản làm việc ghi nhận sự việc và lập biên bản vi phạm hành chính đối với B về hành vi hủy hoại đất. Ngày 16/5/2024, Chủ tịch UBND xã T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 285/QĐ-XPHC đối với B về hành vi Huỷ hoại đất, cụ thể: Đổ đất phế liệu trên đất nuôi trồng thủy sản với tổng diện tích vi phạm là 80m² tại thửa đất số 264, tờ bản đồ số 02 (Bản đồ 299) thuộc thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 15 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, mức phạt tiền là 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng), biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm. Ngày 18/5/2024, B đã nhận được Quyết định trên. Đến ngày 29/5/2024, B vẫn chưa nộp tiền xử phạt vi phạm hành chính. Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 29/5/2024, khi B đi qua thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc thì thấy có nhiều đất đá phế liệu thừa tại khu vực anh Mai Xuân K, sinh năm 1975, trú tại thôn B, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - là công nhân của Công ty N2, có địa chỉ tại huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc đang phá dỡ đường liên thôn để thi công công trình đặt đường ống nước sạch tại xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc nên B đã xin anh K số đất, đá phế liệu trên. Do số đất, đá phế liệu trên không sử dụng vào việc gì khác nên anh K đồng ý. Sau đó, B sử dụng 01 xe công nông tự chế để vận chuyển đất, đá phế liệu từ thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc về khu vực đất ao nhà mình tại thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc để lấp thửa đất ao nêu trên. Khi B vừa đổ xong đất, đá, phế liệu xuống bề mặt ao, phần tiếp giáp với diện tích đổ đất, đá phế liệu đã vi phạm trước đó thì bị tổ công tác của UBND xã T. Quá trình kiểm tra, tổ công tác xác định B đã dùng xe tự chế vận chuyển đất, đá phế liệu đổ lên bề mặt ao với diện tích vi phạm là 6,75m². Tổ công tác UBND xã T đã lập biên bản làm việc, biên bản vi phạm hành chính (lần 2) đối với B về hành vi hủy hoại đất theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 15 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ, đồng thời tạm giữ phương tiện liên quan là chiếc xe công nông tự chế của B. Nhận thấy hành vi vi phạm của có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự nên ngày 30/5/2024, UBND xã T đã ra Quyết định số 337/QĐ-CHS về việc chuyển hồ sơ vụ việc có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với vụ việc nêu trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Y để giải quyết theo thẩm quyền. Sau khi tiếp nhận hồ sơ vụ việc, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Y đã tiến hành các biện pháp điều tra, xác minh theo quy định.
Ngay sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, lập sơ đồ hiện trường đối với vụ việc trên. Quá trình khám nghiệm xác định: Diện tích đất mà Nguyễn Văn B đổ phế liệu để san lấp làm mặt bằng là 86,75m².
Ngày 03/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Y ra Quyết định Trưng cầu giám định số 745/QĐ-ĐCSKT - MT trưng cầu Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh V giám định đất đai.
Tại Bản kết luận giám định số 58/KL - GĐTT ngày 12/6/2024 của Sở tài nguyên và môi trường tỉnh V kết luận:
- Xác định diện tích đất đã bị ông Nguyễn Văn B làm biến dạng mặt bằng?
- Xác định diện tích đất đã bị ông Nguyễn Văn B làm biến dạng mặt bằng sau khi bị Chủ tịch UBND xã T xử phạt vi phạm hành chính? Diện tích đất đã bị ông Nguyễn Văn B làm biến dạng mặt bằng ngày 29/5/2024?
- Hành vi đổ đất, đá lấp 80m² diện tích đất ao ngày 13/5/2024 như nêu trên của ông Nguyễn Văn B có phải là hành vi huỷ hoại đất không? Ngày 29/5/2024, ông Nguyễn Văn B tiếp tục đổ đất, đá san lấp thêm diện tích đất ao trên có phải là hành vi hủy hoại đất không?
- Hành vi nêu trên của ông Nguyễn Văn B có làm ảnh hưởng đến việc nuôi trồng thủy sản không? Mức độ ảnh hưởng như thế nào? Diện tích ảnh hưởng của thửa đất ao?
- Hành vi nêu trên của ông Nguyễn Văn B có sử dụng đất trái với các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai hay không? Quy định tại Văn bản pháp luật nào?
Kết luận: Căn cứ các hồ sơ, tài liệu do cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y cung cấp, xác định: Diện tích đất đã bị ông Nguyễn Văn B làm biến dạng mặt bằng tại thửa đất số 264, tờ bản đồ số 02, Bản đồ 299 (tức thửa đất số 162, tờ bản đồ số 16 theo bản đồ VN 2.000), địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc là: 86,75m².
Kết luận: Căn cứ các hồ sơ, tài liệu do cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y cung cấp, xác định: Diện tích đất đã bị ông Nguyễn Văn B làm biến dạng mặt bằng ngày 13/5/2024 và đã bị Chủ tịch UBND xã T xử phạt vi phạm hành chính là: 80m².
Diện tích đất đã bị ông Nguyễn Văn B làm biến dạng mặt bằng ngày 29/5/2024 (sau khi bị Chủ tịch UBND xã T xử phạt vi phạm hành chính) là: 6,75m².
Kết luận: Căn cứ theo khoản 25, Điều 3, Luật Đất đai năm 2013; khoản 3, Điều 3 và Điều 15 Nghị Định 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai thì: Hành vi của Ông Nguyễn Văn B đổ đất, gạch vỡ, vật liệu xây dựng để san lấp diện tích 86,75m² (gồm hai lần vào ngày 13/5/2024 và ngày 29/5/2024) tại thửa đất ao số 264, tờ bản đồ số 02, Bản đồ 299 (tức thửa đất số 162, tờ bản đồ số 16 theo bản đồ VN 2.000) do UBND xã quản lý, địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc là hành vi hủy hoại đất.
Kết luận: Căn cứ các hồ sơ, tài liệu do cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y cung cấp; căn cứ khoản 25 Điều 3 Luật Đất đai 2013; điểm d khoản 3 Điều 3 Nghị định 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ được sửa đổi bổ sung tại Nghị định 04/2022/NĐ-CP của Chính phủ ngày 06/01/2022 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, thì: Việc ông Nguyễn Văn B đã đổ đất, gạch vỡ, vật liệu xây dựng để san lấp với diện tích 86,75m² tại thửa đất ao số 264, tờ bản đồ số 02, Bản đồ 299 (tức thửa đất số 162, tờ bản đồ số 16 theo bản đồ VN 2.000) do UBND xã quản lý, địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc đã làm thay đổi mục đích sử dụng đất từ đất ao (nuôi trồng thuỷ sản) nay hiện trạng không thể sử dụng vào mục đích nuôi trồng thuỷ sản như ban đầu.
Kết luận: Theo hồ sơ địa chính thể hiện thửa đất số 264, tờ bản đồ số 02, Bản đồ 299 (tức thửa đất số 162, tờ bản đồ số 16 theo bản đồ VN 2.000) địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc có mục đích sử dụng là: Đất ao (nuôi trồng thủy sản) do UBND xã T quản lý.
Việc ông Nguyễn Văn B đã đổ đất, gạch vỡ, vật liệu xây dựng để san lấp với diện tích 86,75m² tại thửa đất ao nêu trên là sử dụng đất không đúng mục đích, vi phạm nghĩa vụ của người sử dụng đất là phải sử dụng đất đúng mục đích theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Luật Đất đai năm 2013.
Vì vậy xác định, hành vi đổ đất, gạch vỡ, vật liệu xây dựng để san lấp với diện tích 86,75m² tại thửa đất ao nêu trên là hành vi sử dụng đất trái với các quy định của pháp luật đất đai thuộc những hành vi nghiêm cấm quy định tại khoản 3 Điều 12 Luật Đất đai năm 2013.
Ngày 31/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Y có Công văn số 327/CQCSĐT - KTMT về việc Thẩm định hồ sơ Xử phạt hành chính, đề nghị Phòng Tư pháp - UBND huyện Y xác định việc Chủ tịch UBND xã T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 285/QĐ-XPHC ngày 16/5/2024 đối với Nguyễn Văn B có đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền xử phạt và hành vi vi phạm không. Ngày 03/6/2024, Phòng Tư pháp - UBND huyện Y có Công văn số 50/PTPxác định: Việc Chủ tịch UBND xã T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 285/QĐ-XPHC ngày 16/5/2024 đối với Nguyễn Văn B là đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Quá trình xác minh tại UBND xã T, Công an xã T xác định: Năm 1993, Hợp tác xã N1 đã giao cho ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1955 (bố đẻ của ông Nguyễn Văn B) quản lý sử dụng 648m² trên diện tích thửa đất ao số 264, tờ bản đồ số 02, Bản đồ 299 (tức thửa đất số 162, tờ bản đồ số 16 theo bản đồ VN 2.000) địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc để nuôi trồng thủy sản. Sau đó, do phải đi làm ăn xa, thường xuyên không ở địa phương, ông Đ đã giao cho ông B quản lý, sử dụng thửa đất nêu trên từ đó đến nay.
Sau khi xảy ra vụ việc trên, ngày 30/5/2024, B đã nộp phạt số tiền 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 285/QĐ-XPHC của Chủ tịch UBND xã T, đồng thời thực hiện việc khắc phục hậu quả, múc bỏ toàn bộ phần đất, đá, vật liệu xây dựng đổ vào thửa đất ao ngày 13/5/2024 và ngày 29/5/2024 trên diện tích 86,75 m², hoàn trả lại hiện trạng thửa đất là bề mặt nước ao.
Về vật chứng của vụ án: 01 chiếc xe công nông tự chế, màu sơn xanh, đã cũ, đã qua sử dụng là tài sản của B, là phương tiện được B sử dụng để vận chuyển đất, đá phế liệu để lấp thửa đất ao nêu trên.
Tại Cáo trạng số 61/CT - VKSBX ngày 05 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc truy tố Nguyễn Văn B về tội “Vi phạm các quy định về sử dụng đất đai” theo khoản 1 Điều 228 của Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích đánh giá chứng cứ, tính chất nghiêm trọng của vụ án, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 228; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 07 (Bảy) tháng đến 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách gấp đôi.
Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 228 Bộ luật hình sự, đề nghị phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc đề nghị xử lý vật chứng và án phí theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của những người tham gia tố tụng:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn B trình bày: Bị cáo đã thừa nhận về hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc đã truy tố, bị cáo đồng ý với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội sửa chữa thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y do ông Ngô Văn C làm đại diện trình bày và thừa nhận việc bị cáo Nguyễn Văn B đã vi phạm các quy định về sử dụng đất đai như lời trình bày của bị cáo là đúng và đề nghị HĐXX giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Người làm chứng ông Mai Xuân K và anh Nguyễn Văn T1 vắng mặt tại phiên tòa xong trong quá trình điều tra đều trình bày các nội dung phù hợp với lời khai của bị cáo B cùng các tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn B thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc. Bị cáo khai: Từ ngày 15/4/2024 đến ngày 13/5/2024, bị cáo có hành vi đổ đất, đá, gạch phế liệu vào thửa đất số 264, tờ bản đồ số 02 (Bản đồ 299) thuộc thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, loại đất: Nuôi trồng thủy sản (Ký hiệu: NTS), diện tích 897m² do B quản lý, sử dụng để san lấp làm mặt bằng. Ngày 13/5/2024, tổ công tác UBND xã T hành vi trên của B, lập biên bản vi phạm hành chính đối với B về hành vi hủy hoại đất. Ngày 16/5/2024, Chủ tịch UBND xã T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 285/QĐ-XPHC đối với B về hành vi huỷ hoại 80m² đất tại thửa đất số 264, tờ bản đồ số 02 (Bản đồ 299) thuộc thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc bằng hình thức phạt tiền là 3.500.000 đồng (Ba triệu, năm trăm nghìn đồng), biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm. Ngày 18/5/2024, B đã nhận được Quyết định xử phạt hành chính nhưng chưa chấp hành Quyết định trên. Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 29/5/2024, B tiếp tục sử dụng 01 xe công nông tự chế của bản thân để vận chuyển đất, đá phế liệu rồi đổ vào thửa đất ao trên thì bị tổ công tác của UBND xã T, xác định B có hành vi đổ đất, đá phế liệu lên bề mặt ao với diện tích vi phạm là 6,75m². Tổ công tác UBND xã T đã lập biên bản làm việc, biên bản vi phạm hành chính (lần 2) đối với B về hành vi hủy hoại đất theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 15 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ.
Ngày 30/5/2024, UBND xã T đã ra Quyết định số 337/QĐ-CHS về việc chuyển hồ sơ vụ việc có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với vụ việc nêu trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Y để giải quyết theo thẩm quyền.
[3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; lời khai của người làm chứng, các biên bản làm việc, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường, biên bản kiểm tra hiện trạng, kết luận giám định, tang vật thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận Nguyễn Văn B đã có 01 tiền sự về hành vi sử dụng đất trái với các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai (hủy hoại đất), sau đó lại tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm trên nên hành vi của B đã phạm vào tội “Vi phạm các quy định về sử dụng đất đai”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Hình sự.
Nội dung điều luật quy định: “1. Người nào... sử dụng đất trái với các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này...mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
[4] Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng nhưng đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực đất đai, tạo nên tiền lệ xấu trong việc quản lý sử dụng đất tại địa phương và gây ra sự bức xúc trong nhân dân. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc sử dụng đất không đúng mục đích, hủy hoại đất là vi phạm nhưng vì lợi ích của bản thân, sau khi bị xử phạt hành chính bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do vậy, cần có một mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm.
[5] Xét nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm của mình gây ra nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Quá trình tại ngoại bị cáo chấp hành đầy đủ, nghiêm túc các quy định của pháp luật và địa phương. Bị cáo có chỗ ở ổn định và nơi cư trú rõ ràng. Do bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ đáng được khoan hồng và có đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại Trại giam mà cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật và giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú giám sát, giáo dục cũng đủ để răn đe, phòng ngừa chung và tạo điều kiện giúp bị cáo có cơ hội tự cải tạo, sửa chữa sai lầm để trở thành công dân có ích cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo có việc làm, có thu nhập và có tài sản. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp. Do vậy, ngoài hình phạt chính cần áp dụng thêm hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 228 Bộ luật hình sự để nộp ngân sách Nhà nước.
[7] Về xử lý vật chứng và các vấn đề khác:
Đối với 01 chiếc xe công nông tự chế, màu sơn xanh, đã cũ, đã qua sử dụng là tài sản của B, là phương tiện được B sử dụng để vận chuyển đất, đá phế liệu để lấp thửa đất ao nêu trên nên cần tịch thu, phát mại, sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với anh Mai Xuân K là người đã cho B đất, đá phế liệu để B đổ vào thửa đất ao ngày 29/5/2024: Quá trình điều tra xác định khi B hỏi xin anh K đất, đá phế liệu đã không nói rõ mục đích xin để làm gì; do là đất, đá phế liệu không có giá trị sử dụng nên anh K đồng ý cho B. Anh K không biết mục đích B lấy đất, đá phế liệu để thực hiện hành vi huỷ hoại đất, đồng thời không bàn bạc, thỏa thuận với B về việc thực hiện hành vi vi phạm nêu trên nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh K là phù hợp.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Vi phạm các quy định về sử dụng đất đai”.
Căn cứ khoản 1 Điều 228; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Văn B 07 (Bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn B cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 228 Bộ luật hình sự, phạt bị cáo B 10.000.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu bán phát mại sung quỹ Nhà nước 01 chiếc xe công nông tự chế, màu sơn xanh, đã cũ, đã qua sử dụng là tài sản của B.
(Vật chứng của vụ án có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Y và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lạc lập ngày 21 tháng 8 năm 2024).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án đối với phần nội dung Bản án có liên quan đến quyền và lợi ích của mình.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Thanh Mai |
Bản án số 57/2024/HS - ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC về vi phạm các quy định về sử dụng đất đai
- Số bản án: 57/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm các quy định về sử dụng đất đai
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyen Van B
