Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 26-8-2024

V/v “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Cúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông: Nguyễn Văn Dương
  2. Ông: Lê Thế Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Lữ Thị Hải Vân - Thư ký Tòa án nhân dân, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 180/2024/TLST – HNGĐ ngày 01 tháng 04 năm 2024 về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con chung theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/QĐXX-ST ngày 01 tháng 08 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 46/2024/QĐST – HNGĐ, ngày 14 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị B – Sinh năm: 1998
  • - Bị đơn: Anh Lê Văn G - Sinh năm: 1993
  • Địa chỉ: TDP X, phường N, tx. N, Thanh Hóa.

Các đương sự đều vắng mặt tại phiên toà

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải chị Huỳnh Thị B trình bày như sau: Chị và anh Lê Văn G kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thị xã N, Thanh Hóa vào ngày 15/7/2016. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được 03 năm thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do thời điểm chị đi làm công ty anh G nghi ngờ chị có quan hệ bất chính với người khác dẫn đến vợ chồng hay cãi nhau, anh G dùng nhiều lời lẽ xúc phạm tới chị, không tôn trọng chị, bảo chị đi theo trai. Vào mùng 2 tết năm 2019 anh G lùa đuổi và sỉ nhục chị nên chị đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở. Sau đó mẹ chồng cùng anh G xuống nhà nói chuyện và xin lỗi nên chị quay lại chung sống. Tuy nhiên, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, anh chị vẫn thường xuyên cãi nhau, anh G vẫn nghi ngờ chị. Đến khoảng tháng 5/2020 chị và anh G sống ly thân hoàn toàn. Trong thời gian sống ly thân, anh G vẫn nhắn tin xúc phạm chị. Suốt một thời gian dài anh G không níu kéo, vợ chồng không còn tình cảm với nhau và khi chị đi làm ăn trong miền N thì anh G có đánh chị. Nay chị thấy không còn tình cảm với anh G nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh G.

Quan điểm trình bày của anh Lê Văn G tại bản tự khai, biên bản hòa giải như sau: Về thời gian, điều kiện, địa điểm kết hôn, như chị B trình bày là đúng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vào đầu năm 2019 anh nghi ngờ chị B có quan hệ tình cảm với người khác và chị Bình thường x bỏ bê gia đình. Sau đó vợ chồng cãi nhau thì chị B bỏ về nhà mẹ đẻ ở. Gia đình anh có xuống hòa giải cho hai vợ chồng sau đó chị B quay lại chung sống được một thời gian nhưng cuộc sống vợ chồng không được hạnh phúc. Đến năm 2021 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, chị B bỏ về nhà mẹ đẻ ở. Vợ chồng anh chị sống ly thân đã gần bốn năm, trong thời gian sống ly thân vợ chồng cũng có gặp nhau nhưng không nói chuyện được với nhau. Giữa anh và chị B chỉ nhắn tin cãi nhau, anh cũng xúc phạm tới chị B và ngược lại chị B cũng có xúc phạm anh nên vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Do gia đình chị B không muốn vun vén cho anh và chị B quay lại nên anh cũng thôi không níu kéo. Nay chị B muốn ly hôn, anh xét thấy vẫn còn tình cảm với chị B và anh không muốn con phải sống cuộc sống thiếu tình thương của bố mẹ nên anh không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Chị B và anh G thừa nhận có 01 con chung là cháu Lê Bảo A – Sinh ngày: 21/9/2016. Nay ly hôn, chị B có nguyện vọng giao cháu Bảo A cho anh G trực tiếp nuôi dưỡng, chị sẽ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng/tháng. Anh G có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Bảo A và không yêu cầu chị B cấp dưỡng nuôi con.

Nguyện vọng của cháu Bảo A muốn ở với anh G.

Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương tham gia tố tụng trong vụ án đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 BLTTDS và các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Huỳnh Thị B. Về hôn nhân: Xử cho chị Huỳnh Thị B được ly hôn với anh Lê Văn G; Về con chung giao cháu Bảo A cho anh G trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị B cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh G mỗi tháng 02 triệu đồng. Chị B được quyền lui tới thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản; Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét. Buộc chị B phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng: Chị Huỳnh Thị B khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Lê Văn G là tranh chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS. Bị đơn hiện cư trú trên địa bàn thị xã N nên TAND Thị xã Nghi Sơn có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

    Tại phiên tòa lần thứ nhất anh G vắng mặt không có lý do, Tòa án đã tiến hành tống đạt thủ tục hợp lệ, đúng theo quy định cho anh G vì vậy HĐXX áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 BLTTDS xử vắng mặt anh G. Chị B có đơn xin xét xử vắng mặt HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 228 BLTTDS xử vắng mặt chị B.

  2. [2] Về quan hệ hôn nhân: Chị B và anh G kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa chị B và anh G có xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau, anh chị đã sống ly thân hoàn toàn 04 năm nay. Trong suốt thời gian sống ly thân anh G không hề có biện pháp níu kéo tình cảm vợ chồng. Quá trình giải quyết vụ án anh G không đồng ý ly hôn vì còn tình cảm với chị B và không muốn con phải sống cuộc sống thiếu tình thương của bố mẹ. Trên cơ sở trình bày của các đương sự, xác minh tại chính quyền địa phương xác định hiện tại anh chị đang sống ly thân. HĐXX xét thấy về phía tình cảm của anh chị không còn, đời sống hôn nhân không hạnh phúc. Vì vậy HĐXX thấy nếu có kéo dài thì đời sống vợ chồng anh chị cũng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị B được ly hôn anh G.
  3. [3] Về con chung: Chị B và anh G có 01 con chung là cháu Lê Bảo A – Sinh ngày: 21/9/2016. Nay ly hôn, chị B có nguyện vọng giao cháu Bảo A cho anh G trực tiếp nuôi dưỡng, anh G cũng có nguyện vọng nuôi con. Cháu Bảo A có nguyện vọng ở với bố. Xét nguyện vọng của các đương sự cũng như của cháu Bảo A, HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình giao cháu Bảo A cho anh G trực tiếp nuôi dưỡng.

    Về cấp dưỡng nuôi con: Anh G không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Chị B tự nguyện cấp dưỡng nuôi con cùng anh G mỗi tháng 02 triệu đồng. Xét thấy đây là ý chí tự nguyện của chị B, phù hợp với quy định của pháp luật nên được HĐXX chấp nhận. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 8/2024 cho đến khi cháu trưởng thành và có khả năng lao động.

    Chị B được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cấm. Trong trường hợp chị B lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì anh G được quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của chị B.

  4. [4] Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
  5. [5] Về án phí: Buộc chị B phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ.
  6. [6] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Tòa án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 BLTTDS; Căn cứ vào các Điều 51, 56; khoản 2 Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ và o điểm a khoản 5, điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Huỳnh Thị B.

  1. 1. Về hôn nhân: Xử cho chị Huỳnh Thị B được ly hôn với anh Lê Văn G.
  2. 2. Về con chung: Chị B và anh G có 01 con chung là cháu Lê Bảo A – Sinh ngày: 21/9/2016. Nay ly hôn, giao cháu Bảo A cho anh G trực tiếp nuôi dưỡng

    Về cấp dưỡng nuôi con: Chị B cấp dưỡng nuôi con cùng anh G mỗi tháng 02 triệu đồng. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 8/2024 cho đến khi cháu Bảo A trưởng thành và có khả năng lao động.

    Chị B được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cấm. Trong trường hợp chị B lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì anh G được quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của chị B..

  3. 3. Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
  4. 4. Về án phí: Buộc chị B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0007225, ngày 01 tháng 07 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Chị B còn phải thi hành 300.000 đồng.
  5. 5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt các đương sự. Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử lại theo trình tự phúc thẩm.

    “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự"

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND thị xã Nghi Sơn;
  • - CC.THA-DS thị xã Nghi Sơn;
  • - Nguyên đơn, bị đơn;
  • - UBND phường Nguyên Bình, TX. Nghi Sơn, Thanh Hóa.
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/HNGĐ-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 57/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hị B và anh G kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa chị B và anh G có xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau, anh chị đã sống ly thân hoàn toàn 04 năm nay. Trong suốt thời gian sống ly thân anh G không hề có biện pháp níu kéo tình cảm vợ chồng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger