Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 57/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 25/7/2024

V/v: Ly hôn, nuôi con chung

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Công

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Đô
  2. Ông Nguyễn Bính

Thư ký phiên toà: Ông Biện Anh Huy, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hường, Kiểm sát viên.

Vào lúc 08 giờ 00 phút, ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 614/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2023, về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 287/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 488/2024/QĐST-DS ngày 25/6/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn:Trần Thị Xuân N, sinh năm: 1996.

Địa chỉ: Tổ B, khu phố D, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Bị đơn: Ông Lê Minh T, sinh năm: 1996.

Địa chỉ: Tổ B, khu phố D, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa có mặt bà Trần Thị Xuân N, ông Lê Minh T vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Trần Thị Xuân N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân:Trần Thị Xuân N và ông Lê Minh T tự nguyện tìm hiểu, quen biết nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 74 ngày 06/11/2018 của Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau đó, phát sinh mâu thuẫn. Bà N và ông T đã cố gắng hàn gắn nhưng không thành. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà N yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà N được ly hôn với ông T.

-Về con chung: Có 02 con chung là Lê Minh Q, sinh ngày 06/4/2019, giới tính nam và Lê An N1, sinh ngày 31/7/2022, giới tính nữ. Bà Trần Thị Xuân N yêu cầu được nuôi con Lê Minh QLê An N1, yêu cầu ông Lê Minh T cấp dưỡng nuôi 02 con 4.000.000 đồng mỗi tháng cho đến lúc 02 con đủ 18 tuổi.

Tại phiên tòa, bà Trần Thị Xuân N chưa có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

-Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu tòa giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị đơn ông Lê Minh T vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, không thể hiện ý kiến về việc giải quyết vụ án.

Bị đơn ông Lê Minh T đã được Tòa án tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng triệu tập hợp lệ để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào các ngày 27/3/2024 nhưng bị đơn ông T không đến tòa tham gia tố tụng và không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của mình. Vì vậy Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, các đương sự đã tuân theo đúng pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Trần Thị Xuân N, bà N được ly hôn ông Lê Minh T, giao con chung Lê Minh QLê An N1 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con do bà N chưa có yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu hồ sơ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bị đơn ông Lê Minh T cư trú tại khu phố D, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ Luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.

[2] Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng bị đơn ông Lê Minh T không có ý kiến liên quan đến yêu cầu khởi kiện, chứng cứ do nguyên đơn bà Trần Thị Xuân N cung cấp cũng như yêu cầu phản tố. Nguyên đơn bà N nộp đơn đề nghị Tòa án không tiếp tục tiến hành hòa giải giữa bà N và ông T. Vì vậy vụ án này không hòa giải được.

[3] Về sự vắng mặt của bị đơn: Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, mà bị đơn ông Lê Minh T vẫn vắng mặt không rõ lý do nên HĐXX căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[4] Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Trần Thị Xuân N, Hội đồng xét xử nhận thấy quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông Lê Minh T là hợp pháp. Bà N và ông T đã được Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận cấp giấy chứng nhận kết hôn số 74 ngày 06/11/2018. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau đó, phát sinh mâu thuẫn. Bà N và ông T đã cố gắng hàn gắn nhưng không thành. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà N yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà N được ly hôn với ông T.

Theo lời khai của nguyên đơn bà Trần Thị Xuân N tại đơn khởi kiện ngày 01/12/2023, bản tự khai ngày 14/12/2023 và các tài liệu, chứng khác có tại hồ sơ vụ án, thể hiện bà N cương quyết yêu cầu được ly hôn vì quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 19 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà N.

[5] Về con chung: Có 02 con chung là Lê Minh Q, sinh ngày 06/4/2019, giới tính nam và Lê An N1, sinh ngày 31/7/2022, giới tính nữ. Bà Trần Thị Xuân N yêu cầu được nuôi con Lê Minh QLê An N1, chưa có yêu cầu ông Lê Minh T cấp dưỡng nuôi 02 con. Xét yêu cầu của bà N là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử quyết định giao con chung Lê Minh QLê An N1 cho bà N nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con do bà N chưa có yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

[6] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thị Xuân N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

[7] Về án phí: Bà Trần Thị Xuân N phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1/Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 262, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự;

Điều 19, Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Luật thi hành án dân sự.

2/ Tuyên xử:

-Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Xuân N. Bà Trần Thị Xuân N được ly hôn ông Lê Minh T.

-Về con chung:Trần Thị Xuân N được quyền nuôi con chung 02 con chung là Lê Minh Q, sinh ngày 06/4/2019, giới tính nam và Lê An N1, sinh ngày 31/7/2022, giới tính nữ.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà N chưa có yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

Trần Thị Xuân N và ông Lê Minh T đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau ly hôn. Không ai được quyền ngăn cản việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau ly hôn.

-Về tài sản chung và nợ chung:Trần Thị Xuân N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết.

-Về án phí:Trần Thị Xuân N phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0001022 ngày 06/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết. Bà Trần Thị Xuân N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình.

Án xử sơ thẩm công khai, bà Trần Thị Xuân N có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Lê Minh T vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận :

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP Phan Thiết;
  • - UBND phường Đức Thăng;
  • - THA dân sự TP Phan Thiết;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/HNGĐ-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 57/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger