Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2024/HS-ST

Ngày: 25/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Giang Thị Vượng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà: Vũ Thị Huyền

Ông: Hoàng Văn Thắng

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thu Hà- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Bá Đoàn - Kiểm sát viên

Trong ngày 25 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 72/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Tẩn An D; sinh ngày 16 tháng 8 năm 1947 tại Lai Châu;

Nơi cư trú: khu C thị trấn S, huyện S, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Hưu trí; trình độ văn hóa: 10/10; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; chức vụ trước khi phạm tội: Đảng viên, đã khai trừ ra khỏi Đảng từ ngày 06/5/2024; Con ông Tẩn Kim S (Đã chết 1980) và bà Tẩn Lún C (đã chết 1998) có vợ là Phạm Thị H (Đã chết năm 2005)và 05 con, con lớn nhất sinh năm 1974(đã chết 2003)con nhỏ nhất sinh năm 1985; Tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư từ ngày 04/3/2024 tại Khu C thị trấn S huyện S tỉnh Lai Châu đến nay. (Có mặt tại phiên toà)

* Bị hại: Sùng Thị V, sinh năm 1980 (đã chết)

* Đại diện bị hại: Ông Mùa A P, sinh năm 1980 (chồng bị hại); Nơi cư trú: Bản T, xã L, huyện S, tỉnh Lai Châu(Có mặt)

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1.Ông Tẩn Lao L, sinh năm 1966; Nơi cư trú: Bản H, xã P, huyện S, tỉnh Lai Châu(Có mặt)

1

* Người làm chứng:

2. Ông Mùa A P1, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Bản T, xã L, huyện S, tỉnh Lai Châu(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tẩn An D, sinh năm 1947, nguyên là cán bộ y tế đã nghỉ hưu. Mặc dù không có giấy phép hành nghề, nhưng vẫn tiến hành khám và phá thai trái phép tại nhà của mình ở Khu C, thị trấn S, huyện S, tỉnh Lai Châu, cụ thể: Khoảng 09 giờ, ngày 09/01/2024, Tẩn A Dùng nhận phá thai khoảng 24 tuần tuổi cho chị Sùng Thị V, sinh năm 1980, trú tại bản Tả San 2, xã L, huyện S, tỉnh Lai Châu với giá 3.000.000 đồng. Dùng chuẩn bị các dụng cụ gồm 01 bơm kim tiêm loại 20ml, 01 bao cao su, 01 dây dẫn cao su, 01 kẹp mỏ vịt kim loại, 01 kẹp sát khuẩn, 01 kẹp cổ tử cung, bông gạch thuốc sát trùng, găng tay để thực hiện việc phá thai. Sau khi bảo chị V nằm lên giường, Tẩn A D1 nhờ Tẩn Lao L, sinh năm 1966, trú tại bản H, xã P là người giúp việc cùng phụ giúp đưa bao cao su đựng nước sôi để nguội đặt vào âm đạo của chị V nhằm tạo cơn co bóp dạ con để kích đẻ. Đến khoảng 02 giờ, ngày 10/01/2024, chị V có dấu hiệu đau bụng chuyển dạ, nên D1 lấy bao cao su đựng nước sôi ra khỏi âm đạo và theo dõi đến khi cổ tử cung mở. Do thai ngang chị V không thể đẻ được, nên D1 đã sử dụng các dụng cụ y tế đã chuẩn bị trước đưa vào trong tử cung để kẹp, cắt, gắp được một ít các bộ phận thai nhi ra. Khoảng 08 giờ cùng ngày, D1 liên tục tiêm tổng cộng 10 ống thuốc Oxytocin vào người chị V để kích đẻ. Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, thấy chị V có dấu hiệu mệt mỏi, nên D1 đi mua 01 chai đạm loại C1, 500ml về để chuyền cho chị V. Khoảng 11 giờ 30 cùng ngày, khi D1 cắm truyền thấy thuốc không vào, khi kiểm tra phát hiện chị Sùng Thị V đã chết. Kết quả khám nghiệm hiện trường ngày 10/01/2024 xác định: Hiện trường xảy ra vụ việc tại nhà Tẩn An D, thuộc khu C thị trấn S, huyện S, tỉnh Lai Châu. Tại phòng nơi phá thai, phát hiện tử thi Sùng Thị V nằm trên giường gỗ. Trong phòng phát hiện, thu giữ nhiều dụng cụ y tế được D sử dụng để phá thai. Kết luận giám định pháp y về tử thi số 08, ngày 29/02/2024 Trung tâm pháp y thuộc Sở Y kết luận: Nguyên nhân chết của Sùng Thị V là sốc không hồi phục do mất máu cấp, nạn nhân có thai khoảng 24 tuần đang bị phá thai.

Vật chứng trong vụ án: Quá trình điều tra thu giữ, gồm

2

- Thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường gồm: (1) 350ml dung dịch được đựng trong chai nhựa nắp màu xanh, chậu nhựa màu xanh có đường kính 40 cm, cao 15cm và một tấm vải tối màu không rõ hình dạng có chiều dài 94 cm, rộng 53cm (được niêm phong bằng bìa catton bên ngoài ghi “Vật chứng thu giữ ở vị trí số 2”); (2) bỉm người lớn, bông y tế, bao cao su, thuốc Atropin Sulfat; Dimedbol; băng dính y tế; dây chuyền dịch còn mới, que thử thai 4 hộp; mỏ vịt. âm đạo; thìa nạo hai cái; ống thông tiểu (được niêm phong bằng bìa catton bên ngoài ghi “Vật chứng thu giữ ở vị trí số 3"); (3) 01 khay quả đậu bằng kim loại; 01 lọ iot; một banh thẳng có mấu; một banh cong; một ống Oxytocin còn 10 đơn vị; khăn tối màu chiều dài 30 cm, rộng 40 cm (được niêm phong bằng bìa catton bên ngoài ghi “Vật chứng thu giữ ở vị trí số 6”); (4) 01 đèn pin màu đen; 05 khay đựng; 01 chiếc lược; hộp kim khâu; hai cán dao mổ; bốn kìm kẹp; 03 mỏ vịt; 03 kéo y tế (được niêm phong bằng bìa catton bên ngoài ghi “Vật chứng thu giữ ở vị trí số 7”); (5) 02 van âm đạo; 01 kẹp cổ tử cung; 01 thìa nạo; bốn ăng cơ; 01 kìm sát khuẩn (được niêm phong bằng bìa catton bên ngoài ghi “Vật chứng thu giữ ở vị trí số 8”);(6) 01 lọ nước chuyền chiamin-500ml, dây chuyền dịch, tấm vải cắt ra từ chăn có chất dịch màu nâu đỏ; 01 tăm bông thấm chất dịch màu đỏ (được niêm phong bằng bìa catton bên ngoài ghi “Vật chứng thu giữ ở vị trí số 4 và vị trí số 1”).

- Thu giữ trong quá trình khám xét gồm: (1) 14 tờ giấy siêu âm do Tẩn An D tự giao nộp (được niêm phong bằng phong bì công văn bên ngoài ghi “Tài liệu thu giữ của Tẩn An Dùng trong quá trình khám xét); (2) 01 nồi hấp bằng kim loại; 05 dụng cụ banh hình mỏ vịt, 01 hộp kim loại bên trong đựng 29 chi tiết dụng cụ dùng trong y tế (được niêm phong bằng bìa catton bên ngoài ghi “Vật chứng thu giữ trong quá trình khám xét”).

Cáo trạng số: 32/CT-VKSLC-P1, ngày 24/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo: Tẩn A D1 về tội “Phá thai trái phép” theo quy định tại khoản 1 Điều 316 của Bộ luật hình sự.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu đã ban hành quyết định số: 06/2024/HSST- QĐ ngày 30/5/2024 về việc trả hồ sơ cho VKSND tỉnh Lai Châu để xác định còn có đồng phạm khác là Tẩn Lao L có liên quan nhưng chưa được khởi tố. Tại công văn số 156 /CV-VKS -P1 ngày 10/6/2024 về việc giữ nguyên cáo trạng đã truy tố, kết quả sau trả hồ sơ xác định:

Ngày 09/01/2024, khi Tẩn An D phá thai cho chị Sùng Thị V bằng cách kích đẻ tự nhiên, thì có Tẩn Lao L, sinh năm 1966, là người giúp việc trong gia đình của bị can Tẩn A có thực hiện việc giúp đỡ giữ mỏ vịt (kẹp) cho Tẩn A thực hiện các thủ thuật đưa bao cao su đựng nước sôi để nguội đặt vào âm đạo của chị V nhằm tạo cơn co bóp dạ con để kích đẻ. Khi thực hiện xong thủ thuật bị hại tỉnh táo, sinh hoạt bình thường, không chảy máu. Khi Tẩn Lao Lù giúp giữ kẹp thì

3

không biết bị can Tẩn An Dùng thực hiện việc phá thai khi không có giấy phép hành nghề. Tẩn Lao L chỉ biết bị can D là bác sỹ đã nghỉ hưu. Khoảng 02 giờ, ngày 10/01/2024, khi bị hại Vắt không thể đẻ được tự nhiên thì bị can Tẩn An Dùng mới tiến hành phá thai bằng biện pháp nạo thai nhi (bấm ối, sử dụng các dụng cụ để tiến hành cắt, gắp thai nhi). Việc này một mình Tẩn An D làm, Tẩn L không giúp, không biết. Quá trình nạo thai dẫn đến bị hại V bị chảy máu và là nguyên nhân dẫn đến tử vong. Viện kiểm sát tỉnh Lai Châu cho rằng không có căn cứ chứng minh anh Tẩn A L1 đã đồng phạm với Tẩn An D về tội phá thai trái phép theo quy định tại Điều 316 Bộ luật Hình sự và giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố.

Tại phiên tòa Đại điện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu giữ quyền công tố, giữ nguyên quyết định định truy tố về tội danh đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

Về hình phạt: Đề nghị Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 316 - BLHS, điểm b, i, o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 BLHS đề nghị tuyên phạt bị Tẩn An D từ 16 đến 20 tháng cải tạo không giam giữ, miễn khấu trừ thu nhập của bị cáo trong thời gian cải tạo.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người già yếu không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử cấm bị cáo hành nghề từ 02 đến 03 năm.

Về vật chứng: vật chứng thu giữ là công cụ, dụng cụ dùng vào việc phạm tội đề nghị tịch thu tiêu huỷ.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo cùng gia đình đã thống nhất thoả thuận tổng mức bồi thường với đại diện bị hại là 160.000.000 đồng (một trăm sáu mươi triệu đồng). Đại diện bị hại đã nhận đủ tiền, tại phiên toà không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm nhân dân tỉnh L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và xét xử tại phiên tòa, bị cáo đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

4

[2]. Xét về tính chất mức độ hành vi của các bị cáo: Tại phiên tòa lời khai nhận của bị cáo đều phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng thu giữ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Mặc dù không được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép phòng khám, không có chứng chỉ hành nghề nhưng từ khoảng từ 09 giờ ngày 09/01/2024 đến khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 10/01/2024, tại nhà của mình ở khu C thị trấn S, huyện S, tỉnh Lai Châu, Tẩn An D đã tiến hành khám, phá thai khoảng 24 tuổi tuổi cho chị Sùng Thị V để hưởng tiền công 3.000.000 đồng. Hậu quả chị V bị chết do sốc không hồi phục do mất máu cấp. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu truy tố bị cáo về tội: “Phá thai trái phép” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 316 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm về an toàn công cộng, các quy định về sức khỏe sinh sản và tính mạng người khác. Bị cáo ý thức được hành vi phá thai trái phép của mình có thể gây ra hậu quả làm người phụ nữ có thai bị chết, nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được. Bị cáo Tẩn An D nguyên là Giám đốc Trung tâm Y tế huyện S, bị cáo hiểu rõ quy định của pháp luật trong việc khám chữa bệnh và phá thai nhưng vì tư lợi cá nhân bị cáo đã bất chấp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội, do vậy việc xử lý trước pháp luật đối với Tẩn An D là rất cần thiết nhằm răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết giảm nhẹ, hình phạt:

Bị cáo Tần An D2 là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiệm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận, đã chủ động bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình nạn nhân, đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo D2 đã 77 tuổi (già yếu) bị cáo D2 là người trực tiếp thờ cúng liệt sỹ, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, o, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ khi phạm tội 77 tuổi có nơi cư trú rõ ràng, xét về tuổi tác điều kiện sức khoẻ không cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà bằng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo.

[5] Trách nhiệm dân sự: Người đại diện bị hại đã nhận tiền bồi thường là 160.000.000 đồng và không yêu cầu gì thêm.

[6] Vật chứng: Cần tịch thu tiêu huỷ: gồm 01 chai dung dịch 350ml dung dịch được đựng trong chai nhựa nắp màu xanh, 01chậu nhựa màu xanh; 01 tấm vải tối màu không rõ hình dạng; Bỉm người lớn, bông y tế, bao cao su, thuốc

5

Atropin Sulfat; Dimedbol; băng dính y tế; dây chuyền dịch còn mới, que thử thai 4 hộp; mỏ vịt, van âm đạo; thìa nạo hai cái; kẹp sát khuẩn; bơm 50 ml; 14 nong cổ tử cung; ống thông tiểu; 01 khay quả đậu bằng kim loại; 01 lọ iot; một banh thẳng có mấu; một banh cong; một ống oxytocin còn 10 đơn vị; khăn tối màu chiều dài 30 cm, rộng 40 cm; 01 đèn pin màu đen; 05 khay đựng; 01 chiếc lược; hộp kim khâu; hai cán dao mổ; bốn kìm kẹp; 03 mỏ vịt; 03 kéo y tế; Hai van âm đạo; 01 kẹp cổ tử cung; 01 thìa nạo; bốn ăng cơ; 01 kìm sát khuẩn; 01 lọ nước chuyền chiamin-500ml, dây chuyền dịch, tấm vải cắt ra từ chăn có chất dịch màu nâu đỏ; 01 tăm bông thấm chất dịch màu đỏ; 14 tờ giấy siêu âm do Tẩn An D tự giao nộp; 01 nồi hấp bằng kim loại; 05 dụng cụ banh hình mỏ vịt, 01 hộp kim loại bên trong đựng 29 chi tiết dụng cụ dùng trong y tế.

[7]Liên quan trong vụ án:

- Đối với Tẩn Lao L được bị cáo Tẩn An D thuê để giúp việc gia đình được khoảng 10 năm tuy không được Tẩn A Dùng bàn bạc trong việc phá thai trái phép cho Sùng Thị V nhưng Tẩn Lao L đã giúp sức cho T An Dùng trong việc bơm nước vào túi cao su đặt trong buồng tử cung của bị hại Sùng Thị V để kích thích đẻ. Toàn bộ các công đoạn sau như tiêm thuốc cắp gắp, thai nhi Tẩn A L1 không tham gia. Mặc dù hậu quả chết người không phải là kết quả trực tiếp của việc Tẩn Lao L giúp bị cáo Tẩn An D việc bơm nước vào túi cao su đặt trong buồng tử cung nhưng Hội đồng xét xử thấy rằng khi thực hiện hành vi giúp Tẩn An D buộc Tẩn Lao Lù phải nhận thức được bản thân không có kiến thức không được đào tạo về y học nhưng vẫn giúp sức cho Tẩn An D tuy Lù chỉ giúp sức với vai trò không đáng kể nhưng vẫn đảm bảo yếu tố đồng phạm do vậy việc Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu trả hồ sơ để điều tra bổ sung là có căn cứ. Sau khi trả hồ sơ cho Viện kiểm sát thì Viện kiểm sát có văn bản số: 156 /VKS-PT ngày 10/6/2024 về việc giữ nguyên cáo trạng. Cơ quan điều tra Công an tỉnh L không khởi tố và Viện kiểm sát không truy tố đối với Tẩn Lao L về tội “Phá thai trái phép”, vì vậy Tòa án không có căn cứ để xét xử đối với T Lao Lù với vai trò đồng phạm về tội “Phá thai trái phép” theo khoản 1 Điều 316- BLHS.

- Ngoài lần phạm tội trên, theo lời khai của Tẩn An DTẩn Lao L, thì trước đó D còn phá thai cho nhiều người khác: Tuy nhiên ngoài lời khai của DL thì không có tài liệu chứng cứ nào khác, nên không có căn cứ để điều tra xử lý.

[8] Kiến nghị:

- Đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xem xét dấu hiệu đồng phạm của Tẩn Lao L nếu có đủ căn cứ thì khởi tố bổ sung.- Bị cáo Tẩn An D là nguyên là Giám đốc Trung tâm y tế huyện S đã hoạt động việc khám phá thai trái phép trong thời gian dài(gần 20 năm) trên địa bàn thị trấn S huyện S tuy nhiên chính quyền địa phương và cơ quan chức năng Trung tâm y tế huyện S, Sở Y tế tỉnh Y chưa thực hiện tốt chức năng thanh tra, kiểm tra và có biện pháp gây tiềm ẩn phát sinh tội

6

phạm liên quan đến lĩnh vực Y tế, do vậy bên cạnh việc tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra cần kết hợp công tác tuyên truyền, giáo dục phổ biến kiến thức pháp luật về Luật khám, chữa bệnh với các chủ cơ sở và người dân tới khám chữa bệnh, góp phần giảm thiểu phát sinh các loại tội phạm về lĩnh vực y tế. [9] Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Quyết định số: 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 4 Điều 316 điểm b, i, o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36, Điều 41 và Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135 khoản 2 Điều 136, Điều 331, 333- Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh tuyên bố bị cáo Tẩn An D phạm tội: “Phá thai trái phép"
  2. Về hình phạt:

    Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Tẩn An D 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ.

    Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện S, tỉnh Lai Châu được quyết định thi hành án. Người bị kết án phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 99, 100, 101 của Luật Thi hành án hình sự. Giao bị cáo Tẩn An D cho Ủy ban nhân dân thị trấn S, huyện S tỉnh Lai Châu giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Miễn khấu trừ thu nhập trong thời gian cải tạo Về hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo Tẩn An D hành nghề Y trong thời hạn 3 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

  3. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu huỷ vật chứng, gồm 01 chai dung dịch 350ml dung dịch được đựng trong chai nhựa nắp màu xanh, 01chậu nhựa màu xanh; 01 tấm vải tối màu không rõ hình dạng; Bỉm người lớn, bông y tế, bao cao su, thuốc Atropin Sulfat; Dimedbol; băng dính y tế; dây chuyền dịch còn mới, que thử thai 4 hộp; mỏ vịt. Van âm đạo; thìa nạo hai cái; kẹp sát khuẩn; bơm 50 ml; 14 nong cổ tử cung; ống thông tiểu; 01 khay quả đậu bằng kim loại; 01 lọ Iot; một banh thẳng có mấu; một banh cong; một ống Oxytocin còn 10 đơn vị; khăn tối màu chiều dài 30 cm, rộng 40 cm; 01 đèn pin màu đen; 05 khay đựng; 01 chiếc lược; hộp kim khâu; hai cán dao mổ; bốn kìm kẹp; 03 mỏ vịt; 03 kéo y tế; Hai

7

  1. van âm đạo; 01 kẹp cổ tử cung; 01 thìa nạo; bốn ăng cơ; 01 kìm sát khuẩn; 01 lọ nước chuyền chiamin-500ml, dây chuyền dịch, tấm vải cắt ra từ chăn có chất dịch màu nâu đỏ; 01 tăm bông thấm chất dịch màu đỏ; 14 tờ giấy siêu âm do Tẩn An D tự giao nộp; 01 nồi hấp bằng kim loại; 05 dụng cụ banh hình mỏ vịt, 01 hộp kim loại bên trong đựng 29 chi tiết dụng cụ dùng trong y tế.

    (Tình trạng vật chứng như nội dung biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Cục THA dân sự tỉnh L vào hồi 15 giờ 15 phút, ngày 26 tháng 4 năm 2024)

  2. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
  3. Bị cáo, đại diện hợp pháp bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp trên trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Cục THADS tỉnh Lai Châu;
  • - Bị cáo; đại diện bị hại;người CQLNVLQ
  • - UBKT huyện Sìn Hồ
  • - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - CQ THAHS huyện Sìn Hồ
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Giang Thị Vượng

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/HS-ST ngày 25/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU về phá thai trái phép (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 57/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Phá thai trái phép (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Tẩn An Dùng nguyên là bác sỹ trung tâm y tế nghỉ hưu, tính tới thời điểm phạm tội bị cáo 77 tuổi đã bồi thường thiệt hại, bị hại xin miễn TNHS. HĐXX phạt bị cáo 18 tháng cải tạo không giam giữ về Tội Phá thai trái phép
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger