TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 57/2024/HS-ST Ngày: 25-6-2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Phạm Văn Lịch;
Ông Đỗ Việt Hùng.
Thư ký phiên toà:Bà Phạm Thị Hương- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huê - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 53/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Trung K, sinh năm 2005; nơi sinh và nơi cư trú: Xóm T, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định;nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 08/12;con ông Trần Văn Ký, sinh năm 1982 và con bà Hoàng Thị T, sinh năm 1984; bị cáo là con thứ hai; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không;bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05-3-2024 cho đến nay.(Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Cháu Phan Ngọc T1, sinh ngày 21/06/2007. Nơi cư trú: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.(Vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp cho cháu Phan Ngọc T1:Anh Phạm Trung T2 - Bí thư Đoàn thanh niên xã H.(Vắng mặt)
- Ông Hoàng Văn M, sinh năm 1952. Nơi cư trú: Địa chỉ: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.(Vắng mặt)
- Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1984. Nơi cư trú: Xóm T, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.(Có mặt)
- Người làm chứng: Chị Vũ Thị Tuyết N, sinh năm 2006. (Vắng mặt)
- Người chứng kiến: Ông Đinh Văn T3, sinh năm 1969. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 04/01/2024, Phan Ngọc T1, sinh ngày 26/01/2007, trú tại xóm F, xã H, huyện H sử dụng tài khoản Facebook “Phan T1” nhắn tin vào tài khoản Facebook “Trung Kiên” của Trần Trung K hỏi mua 02 gói “Cỏ Tô” tức là gói sợi thực vật, màu nâu (dạng sợi thuốc lào) có chứa chất ma tuý, K đồng ý và hẹn trưa ngày 05/01/2024 bán cho T1. Sau đó, K vào trang facebook “Tổng kho Cỏ Mỹ” hỏi mua 400.000 đồng “Cỏ Tô” về để bán kiếm lời thì nhận được tin nhắn hẹn ngày 05/01/2024 giao hàng cho K. Đến 10 giờ 30 phút ngày 05/01/2024, trang mạng “Tổng kho Cỏ Mỹ” liên lạc với Trần Trung K thông báo đến nhận hàng tại cầu Y, thị trấn Y, huyện H. K một mình điều khiển xe môtô nhãn hiệu Vision màu xanh nâu đen, biển kiểm soát: 18H1 73203 từ nhà đến cầu Y thuộc Tổ dân phố số C, thị trấn Y, huyện H gặp và mua của một người đàn ông khoảng 30 tuổi, dáng người cao gầy đeo khẩu trang đang đứng ở chân cầu E gói cỏ tô với giá 400.000đ rồi cất giấu trong túi quần bên phải đang mặc và hẹn T1 đến lấy ở xóm F, xã H, huyện H. Khi đến cầu trên trục đường tỉnh lộ 488C thuộc xóm F, xã H, huyện H, K gặp và bán cho T1 02 gói Cỏ tô với giá 200.000đ. T1 vừa cầm 02 gói ma túy trên tay trái thì bị Công an xã H phát hiện, kiểm tra và lập biên bản làm việc vào hồi 11 giờ 20 phút cùng ngày,thu giữ của Phan Ngọc T1 02 gói nilon màu trắng kích thước (4x8)cm bên trong mỗi gói đều chứa các sợi thực vật màu nâu. Phan Ngọc T1 khai nhận các sợi thực vật màu nâu trong 02 gói nilon vừa mua của Trần Trung K đều là “Cỏ Tô” có chứa chất ma tuý mục đích để sử dụng (Niêm phong ký hiệu M1). Thu giữ của Trần Trung K số tiền 200.000 đồng và 03 gói, trong đó: 02 gói nilon màu trắng đều có kích thước (6x9,5)cm và 01 gói nilon màu trắng có kích thước (4x8)cm, bên trong mỗi gói đều chứa các sợi thực vật màu nâu, K khai nhận 03 gói nilon trên đều là “Cỏ Tô” Kiên cất giấu để bán kiếm lời (Niêm phong ký hiệu M2). Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ của Trần Trung K 01 xe mô tô Vision màu xanh nâu đen, biển kiểm soát: 18H1 - 73203 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax màu trắng; thu giữ của Phan Ngọc T1 01 chiếc điện thoại OPPO A55 màu đen. Đến ngày 08/01/2024 Công an xã H bàn giao toàn bộ hồ sơ cùng vật chứng cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H để điều tra giải quyết theo thẩm quyền.Quá trình điều tra, Trần Trung K đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản kết luận giám định số 253/KL-KTHS ngày 09/01/2024 của Phòng K4 Công an tỉnh N kết luận: “Đều có tìm thấy thành phần các chất gồm: 5F-ADB-PINACA và 5F-MDMB-PINACA trong mẫu các sợi dài màu nâu trong 02 phong bì thư được niêm phong ký hiệu M1 và M2 gửi giám định. Tổng khối lượng mẫu M1: 3,342 gam; Tổng khối lượng mẫu M2: 11,267 gam”.
* 5F-ADB-PINACA là chất ma tuý thuộc Danh mục chất ma tuý, STT: 43, Danh mục: IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
* 5F-MDMB-PINACA là chất ma tuý thuộc Danh mục chất ma tuý, STT: 54, Danh mục: IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Tại bản kết luận giám định số 751/KL-KTHS ngày 07/2/2024 của V Bộ C kết luận:
- Hàm lượng chất ma tuý 5F-MDMB-PINACA trong các sợi thực vật màu nâu (Phong bì ký hiệu M1 và M2) đều là 2,1%.
- Khối lượng chất ma tuý 5F-MDMB-PINACA trong 3,187gam mẫu các sợi thực vật màu nâu (Phong bì ký hiệu M1) là 0,066 gam.
- Khối lượng chất ma tuý 5F-MDMB-PINACA trong 10,931 gam mẫu các sợi thực vật màu nâu (Phong bì ký hiệu M2) là 0,229 gam.
- Đều tìm thấy chất ma tuý 5F-ADB-PINACA trong các sợi thực vật màu nâu (Phong bì ký hiệu M1 và M2) ở “lượng vết”, vì vậy không xác định được hàm lượng và khối lượng chất ma tuý 5F-ADB-PINACA có trong mẫu.
Ghi chú: “Lượng vết” nghĩa là lượng 5F-ADB-PINACA trong mẫu rất nhỏ, dưới giới hạn định lượng của phương pháp phân tích.
Cáo trạng số 56/CT-VKSHH ngày 03 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu truy tố bị cáo Trần Trung K1 tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theokhoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáothành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu ở trên. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Hành vi bán trái phép kiếm lời 0,295gam sợi thực vật có chứa chất ma tuýcủa bị cáo K là hành vi vi phạm pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1Điều 51; Điều 38Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Trung K2 36 tháng đến 42 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày05-3-2024;
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a,b khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy số ma túy trong phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định ký hiệu M1, M2 có số kết luận giám định số 751/KL-KTHS ngày 07-02-2024 của V Bộ C.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) bị cáo thu từ việc bán ma túy.
- Trả cho chị Hoàng Thị T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiện Iphone Xsmax màu trắng, không chứa sim số Imei 357278094374411.
- Trả cho ông Hoàng Văn M 01chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu OPPO A55 màu đen,không lắp sim, số Imeil: 866787058433199, số I: 866787058433181.
Tranh luận tại phiên tòa: Bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và Kiểm sát viên không tranh luận.
Nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đầy đủ cở sở kết luận:Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 05/01/2024, tại khu vực xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định, tổ công tác Công an xã H,huyện H kiểm tra, phát hiện Trần Trung K đang bán trái phép 02 gói sợi thực vật, có chứa chất ma tuý 5F-MDMB-PINACA khối lượng 0,066 gam (hàm lượng chất ma túy 5F-MDMB-PINACA là 2,1%) và chất ma tuý 5F-ADB-PINACA (không xác định khối lượng) cho Phan Ngọc T1 lấy 200.000đ; Ngoài ra, thu giữ trong túi quần bên phải của K 03 gói sợi thực vật chứa chất ma tuý 5F-MDMB-PINACA khối lượng 0,229 gam (hàm lượng chất ma túy 5F-MDMB-PINACA là 2,1%) và chất ma tuý 5F-ADB-PINACA (không xác định khối lượng) mục đích để bán kiếm lời. Như vậy, tổng khối lượng 05 gói sợi thực vật có chứa chất ma túy 5F-MDMB-PINACA mà Trần Trung K bán kiếm lời là 0,295 gam. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trực tiếp đến tình hình an toàn trật tự, trị an xã hội, kỷ cương pháp luật của Nhà nước. Bản thân bị cáo nhận thức rõ tính chất, tác hại nguy hiểm của ma túy. Bởi, ma túy là tác nhân gây nên các tệ nạn xã hội, làm phát sinh các loại tội phạm khác, ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế của nhiều gia đình và xã hội, ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình an ninh trên địa bàn dân cư. Tuy nhiên, do mục đích hám lời, muốn kiếm tiền nhưng không muốn lao động chân chính, thể hiện sự coi thường pháp luật nên bị cáo đã đi vào con đường phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo cũng là nguyên nhân làm gia tăng số lượng người nghiện ma túy trong xã hội, gây tâm lý hoang mang lo lắng và bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó cần phải xử phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, phù hợp với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra nhằm giáo dục, cải tạo đấu tranh phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗinên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.Do đó, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
[5] Về hành vi Phan Ngọc T1 tàng trữ trái phép 02 gói sợi thực vật, có chứa chất ma tuý 5F-MDMB-PINACA trọng lượng lượng 0,066 gam và chất ma tuý 5F-ADB-PINACA (không xác định khối lượng) không đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự nên Công an huyện H ra quyết định xử phạt hành chính đối với T1 là phù hợp.
[6] Người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo tại khu vực tổ dân phố số C, thị trấn Y, huyện H, tỉnh Nam Định và trang mạng xã hội facebook “Tổng kho Cỏ Mỹ” do K không biết họ tên, tuổi, địa chỉ và thông tin về trang mạng xã hội nên không có căn cứ để xác minh, xử lý.
[7] Về xử lý vật chứng:
- Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô Vision màu xanh nâu đen, biển kiểm soát: 18H1 - 73203 là tài sản hợp pháp của chị Vũ Thị Tuyết N, sinh năm 2006, trú tại: xóm B, xã H, huyện H – là bạn bị cáo, chị N cho K mượn xe nhưng không biết K sử dụng đi mua bán ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho chị N quản lý, sử dụng là phù hợp.
- Số Heroine trong bì thư niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định số 751/KL-KTHS ngày 07-02-2024 của V Bộ C là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu, tiêu hủy.
- Chiếc điện thoại di động nhãn hiện Iphone Xsmax màu trắng, không chứa sim số Imei 357278094374411 đã thu giữ của bị cáo là tài sản hợp pháp của chị Hoàng Thị T (mẹ đẻ của bị cáo). ChịThêm không biết bị cáo sử dụng chiếc điện thoại di động trên làm phương tiện giao dịch mua bán ma túy nên cần trả lại cho chị T là phù hợp.
- Chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu OPPO A55 màu đen, không lắp sim, số Imei 1: 866787058433199, số Imei 2: 866787058433181, đã qua sử dụng đã thu giữ của cháu Phan Ngọc T1. Đây là tài sản hợp pháp của ông Hoàng Văn M (ông nội của cháu T1), ông M không biết Phan Ngọc T1 mượn điện thoại sử dụng để giao dịch mua bán ma tuý với bị cáo K nên cần trả lại chiếc điện thoại cho ông M là phù hợp.
- Số tiền 200.000đồng đang gửi tại tài khoản 3949.0.9042561.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu ngày 20-6-2024. Đây là số tiền do Trần Trung K thu lời bất chính nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Trung K3 nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Trung K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Trần Trung K 36 (ba mươi sáu)tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05-03-2024.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm b khoản 2, điểm bkhoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số Heroine có trong 01 phong bì thư niêm phong số 751/KL-KTHS ngày 07-02-2024 hoàn trả mẫu vật sau giám định.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) đang gửi tại tài khoản 3949.0.9042561.00000 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu.
- Trả cho chị Hoàng Thị T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax màu trắng, không chứa sim số Imei 357278094374411.
- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Trần Trung K3 nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hằng |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Đỗ Việt Hùng | Nguyễn Hải Sơn | Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 57/2024/HS-ST ngày 25/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 57/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Trung K phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý
