Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

Bản án số: 57/2024/HS-ST

Ngày 25-04-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Nhường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mạc Vương Long.

Ông Giáp Văn Phẩm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Diệp Thu Trang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trung Kiên, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phan Văn T, sinh năm 1979, tại L, tỉnh Bắc Giang; tên gọi khác: Không; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn X, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; giới tính: Nam; trình độ văn hoá: Lớp 06/12; con ông Phan Văn Đ, sinh năm 1951 và bà Vũ Thị H, sinh năm 1950; có vợ là Nguyễn Thị L, sinh năm 1984 và có 02 con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại ở nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Nguyễn Xuân T1, sinh năm 1954 (đã chết).

Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

  1. Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1956. Vắng mặt
  2. Anh Nguyễn Xuân Đ1, sinh năm 1975. Vắng mặt
  3. Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1980. Vắng mặt
  4. Anh Nguyễn Xuân N, sinh năm 1983. Vắng mặt

Đều địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  1. Chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 1990. Vắng mặt

Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Người đại diện theo uỷ quyền của những người đại diện hợp pháp: Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1980. Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

· Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Đức C, sinh năm 1974. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

Địa chỉ: Phố Đ, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Người làm chứng:

  1. Anh Trần Thế V, sinh năm 1979. Vắng mặt

Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  1. Anh Phạm Văn T2, sinh năm 1991. Vắng mặt

Địa chỉ: Thôn Ả, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ ngày 21/12/2023, Phan Văn T là người đã có Giấy phép lái xe ô tô số [...] hạng B2 do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 19/9/2022 điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Suzuki, loại xe tải mui phủ, màu sơn xanh, biển số 34C-027.50 đi từ nhà đến thôn H, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang để mua gà. Sau khi mua gà xong, T điều khiển xe ô tô đi theo Q hướng huyện L đi L để về nhà. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày T điều khiển xe ô tô đi đến đoạn Km27+870, đường Q thuộc thôn Ả, xã P, huyện L, thì phát hiện phía trước có 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu sơn Xanh, biển số 98F5-4133 do ông Nguyễn Xuân T1, sinh năm 1954, trú tại thôn T, xã Đ, huyện L điều khiển đi cùng chiều, lúc này ông T1 điều khiển xe mô tô chuyển hướng sang phía bên trái theo chiều đi để vào cây xăng, đổ xăng. Khi đó xe ô tô do Phan Văn T điều khiển đi cùng chiều từ phía sau đi đến, do không chú ý quan sát và giữ khoảng cách an toàn, nên xe ô tô do T điều khiển đi lấn sang phần đường bên trái và đâm vào xe mô tô do ông T1 điều khiển. Sau khi xảy ra tai nạn, ông T1 bị thương được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B cứu chữa, tuy nhiên do vết thương nặng nên ông T1 đã tử vong cùng ngày. Hai phương tiện bị hư hỏng.

Nhận được tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện, quá trình khám nghiệm đã chụp ảnh hiện trường, thu giữ các phương tiện liên quan đến vụ tai nạn.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường vụ tai nạn giao thông là đoạn đường thẳng, phẳng, bề mặt đường trải nhựa áp phan. Chiều rộng lòng đường là 11m. Mặt đường có vạch kẻ đứt đoạn màu vàng chia lòng đường làm hai phần. Lề phải đường (hướng L đi thành phố B) là lề bê tông xi măng và mặt cống thoát nước bằng bê tông xi măng rộng 1,3m. Trên phần đường bên trái hướng L đi thành phố B cách vị trí xảy ra tai nạn 30 mét có 05 gờ giảm tốc màu vàng.

* Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết.

  1. (1) Dấu vết cày xước mặt đường, lề đường, sân bê tông.
  2. (2) Dấu vết mài trượt mặt đường, lề đường, sân bê tông.
  3. (3) Xe ô tô biển số 34C-027.50.
  4. (4) Xe mô tô biển số 98F5-4133.
  5. (5) Dấu vết máu.
  6. (6) Mũ bảo hiểm.
  7. (7) Đám mảnh nhựa vỡ.
  8. (8) Dấu vết máu dạng trượt.

*Xác định điểm mốc và một trong các mép đường nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn. Lấy mép đường phải hướng L đi thành phố B làm chuẩn. Lấy cột điện lưới ký hiệu 2.14/TBA thôn T làm mốc.

* Mô tả theo số thứ tự vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết.

- Tại vị trí ký hiệu số (1) là dấu vết cày xước mặt đường, lề đường sân bê tông kích thước trên diện (15,3x0,75)m theo chiều Bắc Giang - L. Đầu vết cách mép chuẩn 2,7m, cách mốc 12,6m. Cuối vết tương ứng vị trí dưới xe mô tô, cách mép chuẩn 4,3m.

· Tại vị trí ký hiệu số (2) là dấu vết mài trượt mặt đường, lề đường, sân bê tông kích thước trên diện (13x0,14)m theo chiều hướng Bắc Giang - L. Đầu vết cách mép chuẩn 1,04m, cách mốc 11m. Cuối vết cách mép chuẩn 5,15m.

- Tại vị trí ký hiệu số (3) là xe ô tô biển số 34C-027.50 trong trạng thái đỗ trên sân bê tông, xi măng; đầu xe hướng L. T3 trục trước bên phải xe cách mép chuẩn 1,77m. T3 trục sau bên phải xe cách mép chuẩn 1,73m, cách mốc 10,6m. T3 trục sau bên trái xe cách mép chuẩn 03m.

- Tại vị trí ký hiệu số (4) là xe mô tô biển số 98F5-4133 trong trạng thái đổ nghiêng phải, đầu xe hướng Bắc Giang. Trục trước xe cách mép chuẩn 4,62m, cách mốc 12,5m. Trục sau xe cách mép chuẩn 04m, cách tâm trục trước bên phải xe ô tô là 4,4m.

- Tại vị trí ký hiệu số (5) là dấu vết máu trên sân bê tông xi măng kích thước trên diện (3,6x0,5)m. T3 vết cách mép chuẩn 4,65m, cách mốc 14,5m.

- Tại vị trí ký hiệu số (6) là mũ bảo hiểm màu đỏ đen cách mép chuẩn 4,7m, cách trục sau xe ô tô là 0,6m.

- Tại vị trí số (7) là hệ thống mảnh nhựa vỡ trên lòng đường, lề đường, sân bê tông kích thước trên diện (12,8x0,4)m. Đám hệ thống mảnh nhựa vỡ cách mép chuẩn 1,7m, cách đầu vết số (1) là 1,15m. Cuối hệ thống mảnh nhựa vỡ cách mép chuẩn 2,72m, cách trục trước xe mô tô là 02m.

- Tại vị trí ký hiệu số (8) là dấu vết máu dạng trượt theo chiều Bắc Giang - L. Đầu vết cách mép chuẩn 1,6m, cách tâm trục sau bên phải xe ô tô là 0,9m. Cuối vết tương ứng tâm vị trí số (5) cách mép chuẩn 4,65m. Kích thước vết là (6,3x0,14)m.

- Cơ quan điều tra thu 01 mẫu dấu vết máu tại vị trí số (5) được niêm phong và bảo quản theo quy định.

Ngày 21/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành đo nồng độ cồn và Test ma túy đối với Phan Văn T, kết quả: không có nồng độ cồn (0,000mg/L), không phát hiện có chất ma túy; cùng ngày Cơ quan điều tra tiến hành tạm giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe nữ, màu sơn Xanh, biển số 98F5-4133, kèm theo 01 Đăng ký mô tô, xe máy số A0009971; 01 Giấy phép lái xe số F568267 của ông Nguyễn Xuân T1; 01 xe ô tô nhãn hiệu SUZUKI, loại xe tải mui phủ, màu sơn Xanh, biển số 34C-027.50, kèm theo 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 006377; 01 Giấy phép lái xe số [...]; 01 Giấy chứng nhận kiểm định số 5927250 của Phan Văn T.

* Kết quả khám nghiệm tử thi ông Nguyễn Xuân T1:

  • + Vùng đầu tóc đen bạc cắt ngắn, lỗ tai trái khô, hai mắt khép kín, lỗ tai phải có máu đông lẫn không đông.
  • + Hai lỗ mũi có máu, miệng khép kín, lưỡi trong cung răng.
  • + Phía trên vai phải có diện xây sát da kích thước (8 x 3)cm.
  • + Mặt mu đốt bàn ngón hai tay phải có diện xây sát da kích thước (1 x 1,2)cm. Ở mô bên trái có vết bầm tím da kích thước (5 x 2)cm.
  • + Mặt trước gối phải có nhiều vết xây sát da trên diện (5 x 6)cm.
  • + Mặt trước trong cổ chân phải có vết xây sát da kích thước (1 x 1,2)cm.
  • + Mổ tử thi: Giải phẫu tử thi vùng đầu: bộc lộ da đầu vùng thái dương phải thấy bầm tụ máu tổ chức dưới da đầu và cơ thái dương phải, nứt vỡ xương hộp sọ thái dương phải dài 4cm, qua đó máu không đông chảy ra. Chọc hút bơm kim tiêm vùng ức thu được mẫu máu tử thi.

* Kết quả khám phương tiện xe ô tô biển số 34C-027.50 có các dấu vết sau:

  • + T4 chắn kim loại đầu xe tại vị trí bên cạnh đèn pha phải xe có vết mài trượt kim loại, lõm kim loại mặt trượt sơn theo chiều từ trên xuống dưới, từ phải qua trái trên diện (6 x 3)cm.
  • + Ốp nhựa bảo vệ đèn xi nhan phía trước bên phải bị vỡ nhựa trên diện (17 x 5)cm.
  • + Tại vị trí bên phải ba đờ sốc bị trượt xước sơn trên diện (30 x 10)cm. Tại góc bên dưới cùng bên phải bị tì lõm vào trong.
  • + Tại mép dưới bên cánh cửa xe bên phải bị bong tróc sơn.
  • + Tại rô tuyn bên phải xe có vết trượt xước kim loại theo chiều từ dưới lên trên có vết mài trượt màu đen trên diện (3 x 2)cm.

* Kết quả khám phương tiện xe mô tô biển số 98F5-4133 có các dấu vết sau:

  • + Cụm xi nhan phải phía trước xe bị vỡ phức tạp.
  • + Tay phanh phải bị cong theo chiều từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới, có vết mài trượt kim loại trên diện (10 x 1)cm.
  • + Tay nắm phải có vết mài trượt mất cao su trên diện (6 x 3)cm, mài trượt vào phần kim loại bên trong trên diện (1 x 1)cm.
  • + Khung kim loại để gắn giỏ xe phía trước bị cong vênh theo chiều từ phải qua trái, tại phần đầu khung có vết mài trượt kim loại trên diện (1 x 1)cm.
  • + Ốp chắn bùn phải trước có vết mài trượt nhựa theo chiều từ dưới lên trên kích thước (6 x 3)cm, ốp chắn bùn bị cong vênh.
  • + Tại lốp bánh xe phía trước có vết mài trượt cao su theo nhiều chiều khác nhau kích thước ( 25 x 2)cm.
  • + Tại cánh yếm phải có vết mài trượt nhựa vị trí mép yếm dài 35cm.
  • + Chân phanh có vết mài trượt kim loại trên diện (3 x 1)cm.
  • + Để chân phía trước bên phải bị cong theo chiều từ trước về sau, ốp cao su bị rách phức tạp.
  • + Bàn đạp (cần khởi động) máy xe có vết mài trượt kim loại. Tại để chân phía trước bên phải có vết mài trượt kim loại kích thước (1 x 1)cm.
  • + Ống xả có vết mài trượt kim loại trên diện (20 x 5)cm.
  • + Gác ba ga phía sau xe có vết mài trượt kim loại trên diện (6 x 1)cm.
  • + Đèn xi nhan phía sau bên phải có vết mài trượt nhựa tại ốp nhựa xi nhan trên diện (3 x 1)cm.
  • + Tại phần bên phải phía sau yên xe có vết mài trượt cao su trên diện (12 x 8)cm.
  • + Ốp nhựa bảo vệ bình ắc quy bên trái xe bị bật rời.
  • + Tại mép bên trái của gác ba ga phía sau xe có vết mài trượt kim loại bám dính sơn màu xanh kích thước ( 1 x 1)cm.
  • + Giảm sóc bên trái phía sau bị cong theo chiều từ ngoài vào trong, có vết mài trượt bám dính chất màu đen và màu xanh.
  • + Tại hộp xích có vết hằn kim loại, lõm vào trong kích thước (5 x 0,1)cm.
  • + Kỹ thuật an toàn phương tiện: hệ thống phanh, còi, lốp, gương hoạt động bình thường; xi nhan phải phía trước bị vỡ.

Ngày 09/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định trưng cầu giám định số 51/QĐ-CSĐT, trưng cầu giám định cơ chế hình thành dấu vết trên hiện trường, trên phương tiện liên quan trong vụ tai nạn giao thông đường bộ. Vị trí va chạm giữa hai phương tiện trên mặt đường. Tốc độ của các phương tiện khi xảy ra tai nạn. Ngày 19/01/2024, Phòng K Công an tỉnh B có Kết luận giám định số 172/KL-KTHS nội dung như sau:

  1. Dấu vết lõm, trượt xước sơn, kim loại, hướng từ trước ra sau, từ phải sang trái ở ốp kim loại bên phải đầu xe ô tô biển kiểm soát (viết tắt BKS) 34C-027.50 (ảnh số 5 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết trượt xước kim loại, bám dính chất màu xanh (dạng sơn), hướng từ sau ra trước, từ trái sang phải ở thanh kim loại bên trái giá thồ hàng phía sau của xe mô tô BKS 98F5-4133 (ảnh số 16 bản ảnh khám phương tiện).
  2. Dấu vết trượt xước sơn, kim loại, hướng từ trước ra sau, từ phải sang trái ở bên phải ba đờ sốc trước của xe ô tô BKS 34C-027.50 (ảnh số 7 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết chùn cong kim loại, trượt xước sơn, bám dính chất màu đen (dạng sơn), hướng từ sau ra trước, từ trái sang phải ở mặt ngoài giảm sóc sau bên trái và ốp sườn bên trái của xe mô tô BKS 98F5-4133 (ảnh 19, 21 bản ảnh khám phương tiện).
  3. Dấu vết hằn lõm kim loại, trượt xước sơn, hướng từ trước ra sau, từ phải sang trái ở bên phải cản trước và góc dưới cánh phải xe ô tô BKS 34C-027.50 (ảnh số 8 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết mài trượt cao su, chùn cong kim loại, bám dính chất màu đen – trắng (dạng sơn, ma tít), hướng từ sau ra trước, từ trái sang phải để chân và thanh kim loại gắn đỡ để chân sau bên trái của xe mô tô BKS 98F5-4133 (ảnh số 22 bản ảnh khám phương tiện).
  4. Dấu vết chùn cong kim loại, trượt xước nhựa, cao su, bám dính chất màu trắng (dạng bột đá) ở bên phải của xe mô tô BKS 98F5-4133 gồm: tay nắm, khung kim loại gắn giỏ xe, chắn bùn bánh trước, má lốp bánh trước, chân phanh, để chân trước, đèn xi nhan sau (từ ảnh 6 đến ảnh 13 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với quá trình va chạm, xe mô tô BKS 98F5-4133 đổ nghiêng phải, văng trượt trên mặt đường tạo nên dấu vết cày xước ký hiệu số 1.

Không xác định được dấu vết mài trượt mặt đường, lề đường, sân bê tông, ký hiệu số 2 là do phương tiện, người hay đồ vật nào tạo nên.

3. Vị trí va chạm giữa xe ô tô BKS 34C-027.50 với xe mô tô BKS 98F5-4133 trên mặt đường, tại trước điểm đầu hệ thống dấu vết cày xước ký hiệu số 1, thuộc chiều chuyển động bên phải theo hướng L đi thành phố B.

4. Chiều hướng va chạm: tại thời điểm xảy ra tai nạn xe ô tô BKS 34C-027.50 chuyển động theo hướng thành phố B đi Lục Ngạn va chạm với xe mô tô BKS 98F5-4133 ở phía trước (đầu xe mô tô chếch hướng từ phải sang trái theo chiều chuyển động của xe ô tô BKS 34C-027.50).

5. Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học.

Ngày 21/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 371/QĐ-CSĐT, giám định nguyên nhân chết của ông Nguyễn Xuân T1. Ngày 21/01/2024, Phòng K Công an tỉnh B ra Kết luận giám định tử thi số 186/KLGĐTT-KTHS, kết luận:

  1. Các kết quả chính
    • - Trên cơ thể Nguyễn Xuân T1 có tổn thương chính:
    • + Lỗ tai phải có máu đông lẫn không đông.
    • + Hai lỗ mũi có máu.
    • + Bộc lộ da đầu vùng thái dương phải thấy: Bầm tụ máu tổ chức dưới da đầu và cơ thái dương phải, đường nứt vỡ xương hộp sọ thái dương phải dài 04cm (phần đo được), qua đó máu không đông chảy ra.
  2. Kết luận: Nguyên nhân chết của Nguyễn Xuân T1 do chấn thương sọ não: Vỡ xương hộp sọ vùng thái dương phải.

Ngày 02/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 14/QĐ-CSĐT, trưng cầu giám định nồng độ cồn trong mẫu máu thu từ tử thi Nguyễn Xuân T1. Ngày 09/01/2024, V1 - Bộ C1 ra Kết luận giám định số 70/KL-KTHS, kết luận: Trong mẫu máu ghi thu của Nguyễn Xuân T1 (SN: 1954, trú tại thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang), ký hiệu MT1 gửi giám định không tìm thấy ethanol (cồn).

Ngày 02/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 15/QĐ-CSĐT, trưng cầu giám định mẫu chất màu nâu đỏ nghi máu thu tại hiện trường và mẫu máu thu từ tử thi Nguyễn Xuân T1. Ngày 22/01/2024, Phòng K Công an tỉnh B ra Kết luận giám định số 183/KL-KTHS, kết luận:

  • - Mẫu được niêm phong trong phong bì ký hiệu “Mẫu thu tại vị trí số 5” gửi giám định có máu người, nhóm máu O.
  • - Mẫu máu của Nguyễn Xuân T1 được niêm phong trong phong bì ký hiệu “MT2”, gửi giám định thuộc nhóm máu O.

Ngày 24/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Yêu cầu định giá tài sản số 339/YC-CSĐT và Yêu cầu định giá tài sản số 340/YC-CSĐT đối với xe ô tô biển số: 34C-027.50 và xe mô tô biển số 98F5-4133. Ngày 30/01/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện L ra Kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐGTS và Kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐĐGTS, kết luận:

  • - Sau khi xảy ra tai nạn, xe ô tô nhãn hiệu SUZUKI, loại xe tải mui phủ, màu sơn Xanh, biển số 34C-027.50 bị thiệt hại trị giá 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng).
  • - Sau khi xảy ra tai nạn, xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Super Cub, màu sơn Xanh, biển số 98F5-4133 bị thiệt hại trị giá 1.440.000 đồng (Một triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng).

Nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn giao thông nêu trên là do Phan Văn T điều khiển xe ô tô không làm chủ tốc độ và đi không đúng làn đường, không đi bên phải theo chiều đi của mình, đi lấn sang làn đường bên trái gây tai nạn giao thông, dẫn tới hậu quả ông Nguyễn Xuân T1 tử vong, vi phạm vào khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 13 Luật Giao thông đường bộ.

Khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ quy định về quy tắc chung:

“Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ.”.

Khoản 1 Điều 13 Luật giao thông đường bộ quy định như sau:

Điều 13. Sử dụng làn đường

“Trên đường có nhiều làn đường cho xe đi cùng chiều được phân biệt bằng vạch kẻ phân làn đường, người điều khiển phương tiện phải cho xe đi trong một làn đường và chỉ được chuyển làn đường ở những nơi cho phép; khi chuyển làn đường phải có tín hiệu báo trước và phải bảo đảm an toàn.”

Về vật chứng vụ án:

Ngày 14/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định xử lý vật chứng số 432/QĐ-CSĐT trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe nữ, màu sơn Xanh, biển số 98F5-4133, số khung: 2000692, số máy: 1953345; 01 Đăng ký mô tô, xe máy số A0009971; 01 Giấy phép lái xe số F568267 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Văn H1.

Ngày 17/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định xử lý vật chứng số 445/QĐ-CSĐT trả lại 01 xe ô tô nhãn hiệu SUZUKI, loại xe tải mui phủ, màu sơn Xanh, biển số 34C-027.50, số khung: A21TCV108989, số máy: F10AID718713; 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 006377; 01 Giấy phép lái xe số [...]; 01 Giấy chứng nhận kiểm định số 5927250 cho bị cáo Phan Văn T.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 28/12/2023, bị cáo đã bồi thường cho gia đình ông Nguyễn Xuân T1 số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) bao gồm tiền mai tang phí, viện phí, tiền thuốc; tiền tổn hại sức khỏe, tổn thất tinh thần. Gia đình ông T1 không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo Phan Văn T.

Từ những nội dung trên, bản Cáo trạng số 61/CT-VKS ngày 01 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Phan Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phan Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Những người đại diện hợp pháp của bị hại, người đại diện theo uỷ quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, làm chứng vắng mặt. Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người vắng mặt tại phiên tòa.

Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Văn T từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là từ 30 (ba mươi) đến 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phan Văn T cho UBND xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

  1. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Phan Văn T chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì đối với đại diện Viện kiểm sát.

Thực hiện lời nói sau cùng, bị cáo trình bày đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hội đồng xét xử xét thấy hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, những người đại diện hợp pháp của bị hại, người đại diện theo uỷ quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến kết quả xét xử. Căn cứ quy định tại Điều 292 và Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo Phan Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, tang vật chứng thu được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ ngày 21/12/2023, tại Km27+870, đường Q thuộc thôn Ả, xã P, huyện L. Phan Văn T, sinh năm 1979, trú tại thôn X, xã B, huyện L, điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Suzuki, loại xe tải mui phủ, màu sơn xanh, BKS 34C-027.50, đi trên Q theo hướng thành phố B đi về xã B, huyện L, do không làm chủ tốc độ, không giữ khoảng cách an toàn với xe phía trước, đi không đúng làn, phần đường nên đã va chậm với xe mô tô do ông Nguyễn Xuân T1 điều khiển đi cùng chiều. Hậu quả ông Nguyễn Xuân T1 bị chết, tổng thiệt hại về tài sản là 2.640.000 đồng. Hành vi của Phan Văn T đã vi phạm khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 13 Luật Giao thông đường bộ và Khoản 1 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT.

[4] Hành vi nêu trên của bị cáo Phan Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Nguyên nhân xảy ra tai nạn được xác định do lỗi của bị cáo Phan Văn T điều khiển xe ô tô không làm chủ tốc độ và đi không đúng làn đường, không đi bên phải theo chiều đi của mình, đi lấn sang làn đường bên trái gây tai nạn giao thông, dẫn tới hậu quả ông Nguyễn Xuân T1 tử vong. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc lái xe ô tô thiếu chú ý, quan sát, gây thiệt hại tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn và bản Luận tội của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tại phiên tòa đã truy tố bị cáo Phan Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[5] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy:

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo và gia đình đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại. Đại điện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bố bị cáo là ông Phan Văn Đ có giấy chứng nhận thương binh. Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.

[6] Qua đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Được người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn đề nghị xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, bố bị cáo là thương binh và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội không nhất thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội, mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục và ấn định thời gian thử thách cũng có đủ điều kiện cải tạo để bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như các quy định của pháp luật về xử lý mức hình phạt của đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên cần được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có công việc ổn định vì vậy không nhất thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề đối với bị cáo như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, ngày 28/12/2023, bị cáo đã bồi thường cho gia đình ông Nguyễn Xuân T1 số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) bao gồm tiền mai tang phí, viện phí, tiền thuốc; tiền tổn hại sức khỏe, tổn thất tinh thần. Gia đình ông T1 không yêu cầu bồi thường gì thêm. Người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp anh Nguyễn Văn H1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[9] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe nữ, màu sơn Xanh, biển số 98F5-4133, số khung: 2000692, số máy: 1953345; 01 Đăng ký mô tô, xe máy số A0009971; 01 Giấy phép lái xe số F568267 chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Văn H1. Ngày 19/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định xử lý vật chứng số 432/QĐ-CSĐT trả lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn H1 là có căn cứ.
  • - Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu SUZUKI, loại xe tải mui phủ, màu sơn Xanh, biển số 34C-027.50, số khung: A21TCV108989, số máy: F10AID718713; 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 006377; 01 Giấy phép lái xe số [...]; 01 Giấy chứng nhận kiểm định số 5927250 chủ sở hữu hợp pháp là Phan Văn T. Ngày 17/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định xử lý vật chứng số 445/QĐ-CSĐT trả lại cho chủ sở hữu là bị cáo Phan Văn T là có căn cứ.

[10] Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Phan Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Xử phạt bị cáo Phan Văn T 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/4/2024).

Giao bị cáo cho UBND xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  1. Về án phí: Bị cáo Phan Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  1. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Án xử công khai sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND xã Biên Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang;
  • - Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Đức Nhường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 57/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: b
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger