|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 57/2024/DSST
Ngày 24-10-2024
V/v “tranh chấp về hợp đồng tín dụng"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Chu Y.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Sinh Phương.
Ông Huỳnh Thiện Khiêm.
Thư ký phiên tòa: ông Vương Quốc Dũng, Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Bến Cầu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu tham gia phiên tòa: bà
Phạm Thị Thảo Nguyên - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 63/2024/ST-DS ngày 11 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐST-DS ngày 16 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 33/2024/QĐST-DS ngày 29 tháng 9 năm 2024, giữa:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
Địa chỉ: Số B -B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà nguyễn Đức Thạch D - chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quốc H- Trưởng phòng G - Chi nhánh T1.
Địa chỉ: K, Khu phố N thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Quốc H: Ông Nguyễn Minh C - Chuyên viên quản lý tín dụng và kiểm soát rủi ro (theo giấy ủy quyền ngày 18-4-2023). vắng mặt
2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Hoài T, sinh năm: 1998. Địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh. vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện ngày 07/3/2024 của nguyên đơn và trình bày của người đại diện- ông Nguyễn Minh C trong các biên bản có trong hồ sơ vụ án trình bày như sau:
Vào ngày 30/12/2021, Ngân hàng TMCP S (sau đây viết tắt là S1) có ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng với chị T. Căn cứ thu nhập của chị T, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 10.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, loại thẻ: thẻ tín dụng Family, số thẻ: 970403-3521, số tài khoản thẻ: 3320207818, ngày đến hạn thanh toán: ngày 15 hàng tháng, lãi suất: 20,40%/ năm (1,70%/tháng). Sau khi được cấp thẻ, chị T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 10.900.000 đồng. Từ ngày kích hoạt thẻ đến ngày 15/11/2022 chị T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 8.356.992 đồng sau đó không thanh toán nữa. Do chị T vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 15/02/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Ngày 07/3/2024, ngân hàng làm đơn khởi kiện yêu cầu chị T thanh toán tổng số nợ tính đến ngày 07/3/2024 là 15.575.674 đồng và lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong tất cả số nợ.
Dư nợ tính đến ngày 15/10/2024 của chị T đối với Ngân hàng là: 11.451.650 đồng, lãi quá hạn: 6.495.872 đồng. Tổng cộng: 17.947.522 đồng. S1 yêu cầu chị T trả cho Ngân hàng tổng số tiền trên và tiếp tục tính lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Ngoài ra không còn yêu cầu gì khác.
Ông C có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn – chị Nguyễn Thị Hoài T đã được Tòa án cấp tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng nhưng không tham gia giải quyết vụ án và không có văn bản trình bày ý kiến của mình về việc giải quyết vụ án.
3. Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
3.1. Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn không tham gia giải quyết vụ án, không chấp hành theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn vắng mặt không có lý do, nên căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định.
3.2. Về nội dung: Căn các Điều 90, 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với chị Nguyễn Thị Hoài T về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Chị T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền 17.947.522 đồng tính đến ngày 15/10/2024 (trong đó nợ gốc: 11.451.650 đồng, lãi quá hạn: 6.495.872 đồng) và khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 16/10/2024 đến khi trả hết số nợ theo lãi suất quy định tại hợp đồng.
- Về án phí sơ thẩm: chị Nguyễn Thị Hoài T phải chịu án phí theo quy định; Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí.
- Về yêu cầu khắc phục vi phạm: không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
[1] Về tố tụng:
[1.1] S1 khởi kiện tranh chấp về hợp đồng tín dụng với chị Nguyễn Thị Hoài T có nơi cư trú tại ấp T, xã L, huyện B nên Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Các đương sự tuy vắng mặt, nhưng Tòa án đã tiến hành đúng và đầy đủ thủ tục để bảo đảm cho việc xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và Tòa án thu thập thì thấy rằng: Vào ngày 30/12/2021, S1 có ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng với chị T với hạn mức sử dụng là 10.000.000 đồng. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, chị T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 10.900.000 đồng. Từ ngày kích hoạt thẻ đến nay chị T đã thanh toán cho S1 số tiền 8.356.992 đồng. Do chị T vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 15/02/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo cam kết giữa các bên. Dư nợ đến ngày 15/10/2024 là 11.451.650 đồng, lãi quá hạn: 6.495.872 đồng. Tổng cộng: 17.947.522 đồng.
[2.2] Hợp đồng tín dụng giữa chị T với S1 là hợp pháp nên các bên có quyền và nghĩa vụ như đã thỏa thuận trong hợp đồng, chị T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên S1 yêu cầu chị T thanh toán là có căn cứ. Do đó yêu cầu khởi kiện của S1 là có cơ sở chấp nhận.
[3] Về án phí:
Chị T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo pháp luật qui định. S1 không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, trả lại tiền tạm ứng án phí cho S1.
[4] Xét đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 463, 466, 470 của Bộ Luật dân sự; các Điều 90, 91, 95 của Luật các Tổ chức tín dụng Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S (S1) về tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với chị Nguyễn Thị Hoài T.
Buộc chị Nguyễn Thị Hoài T phải trả cho Ngân hàng TMCP S (S1) số tiền 17.947.522 đồng và tiền lãi suất phát sinh trên số dư nợ gốc tính từ ngày 16/10/2024 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất được các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 30/12/2021 kèm theo Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S (S1).
2. Án phí sơ thẩm:
Chị Nguyễn Thị Hoài T phải chịu 897.376 đồng án phí dân sự. Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí.
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền 779.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012283 ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.
3. Về quyền kháng cáo:
Ngân hàng TMCP S và chị Nguyễn Thị Hoài T có quyền kháng cáo theo trình tự thủ tục phúc thẩm lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Chu Y |
Bản án số 57/2024/DSST ngày 24/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp về hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 57/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/10/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Sacombank với Nguyễn Hoài Th
