Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN EA KAR

TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 57/2024/HSST

Ngày 24/9/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA KAR, TỈNH ĐẮK LẮK

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Thị Thu Ba.

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Y Yâo Bkrông.
  2. Ông Lê Khắc Dũng.

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: ông Phan Hoài Đông– Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar tham gia phiên tòa: ông Dương Minh Xuân – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ea Kar, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 53/2024/HSST ngày 27/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2024/QĐXXST-HSST ngày 11/9/2024 đối với bị cáo:

Lưu Xuân P, sinh năm 1980 tại: huyện H, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Buôn E, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: không nghề nghiệp ổn định; trình độ học vấn: lớp 00/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Con ông Lưu Văn S, sinh năm 1954 và con bà Đinh Thị Đ, sinh năm 1957; vợ là Nguyễn Thị T, sinh năm 1983 (đã ly hôn) và có 02 con (con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2006 (đã chết)); tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: + Ngày 18/8/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An xử phạt 15 (mười lăm) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 28/4/2017 chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của bản án nên đã được xóa án tích.

+ Ngày 26/3/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 (mười tám) tháng, đến ngày 11/7/2021, chấp hành xong, đã hết thời gian được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 30/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện E- Có mặt tại phiên toà.

1

- Bị hại: + ông Nguyễn Văn P1, sinh năm 1984. Nơi cư trú: Thôn A, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (có đơn xin xét xử vắng mặt).

+ Ông Lê Viết C, sinh năm 1977. Nơi cư trú: Thôn B, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Rmah K, sinh năm 1975. Nơi cư trú: Buôn T, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk: có mặt.

+ Ông Lý Văn C1, sinh năm 1991. Nơi cư trú: Thôn C, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk: có mặt.

+ Bà Vũ Thị Hồng V, sinh năm 1997. Nơi cư trú: Thôn A, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk: vắng mặt.

+ Ônh Trần Sỹ H, sinh năm 1968. Nơi cư trú: Thôn F, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk: vắng mặt.

- Người làm chứng: Bà Quách Thị H1, sinh năm 1991. Nơi cư trú: Thôn E, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk: vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có nghề nghiệp và nghiện ma túy nên Lưu Xuân P đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác bán lấy tiền tiêu xài cá nhân và mua ma túy để sử dụng. Từ ngày 01/5/2024 đến ngày 09/5/2024, P đã thực hiện 02 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn huyện E, tỉnh Đắk Lắk, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 18 giờ 10 phút ngày 01/5/2024, Lưu Xuân P đi bộ đến tiệm sửa chữa H2 do ông Lê Viết C, trú tại thôn B, xã E, huyện E làm chủ, P đi vào gặp ông C hỏi mua xe mô tô cũ. Sau khi trao đổi, P chọn mua xe mô tô nhãn hiệu ZINDA, màu sơn xanh, biển số 47N7-4739 của ông C với giá tiền là 9.500.000đ. Sau đó, P nói với ông C cho mượn điện thoại NOKIA C20, màu đen để gọi cho gia đình lấy tiền mua xe, rồi nói với ông C đưa xe biển số 47N7-4739 cho P chạy thử đến quán N cách tiệm xe máy của ông C khoảng 01km để gặp gia đình lấy tiền trả cho ông C thì ông C đồng ý. Vì trước đây P đã từng mua xe cũ của ông C nên ông C tin tưởng giao điện thoại, xe và chìa khóa xe cho P. Sau đó, P điều khiển xe mô tô tẩu thoát, rồi mang điện thoại NOKIA C20, màu đen của ông C đến tiệm cầm đồ V 59 do bà Vũ Thị Hồng V làm chủ cầm cố với giá 500.000đ. Do không thấy P quay lại nên ông C đi tìm đến 01 giờ ngày 02/5/2024 thì thấy P ăn khuya ở thị trấn E và ông C hỏi điện thoại đâu thì P trả lời đã mang đi cầm cố rồi, sau đó bỏ chạy. Vì vậy, ông C làm đơn trình báo sự việc lên cơ quan Công an.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 41/KL-HĐ97 ngày 26/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện E kết luận: Xe mô tô biển số 47N7-4739, màu xanh, nhãn hiệu ZINDA (đã qua sử dụng) có giá trị là

2

4.000.000đ; một điện thoại di động NOKIA C20, màu đen (đã qua sử dụng) có giá trị là 450.000đ. Tổng giá trị tài sản định giá là 4.450.000đ (bốn triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng).

Vụ thứ hai: Khoảng 18 giờ ngày 09/5/2024, P đi bộ dọc Quốc lộ B để tìm kiếm tài sản lừa đảo, khi đi đến tiệm S1 do ông Nguyễn Văn P1, trú tại thôn I, xã E, huyện E làm chủ tiệm hỏi mua xe mô tô cũ. Ông P1 dẫn vào xem xe thì P1 chọn mua xe mô tô biển số 47F1-016.41 nhãn hiệu YAMAHA JUPITER màu xanh đen với giá 8.000.000đ. Sau khi thống nhất giá cả P muốn được chạy thử xe thì ông P1 yêu cầu P đưa giấy tờ tùy thân. Lúc này, P đưa cho ông P1 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Lý Văn C1 để ông P1 tin tưởng là P mua xe. Sau đó, ông P1 đồng ý giao xe cho P rồi P điều khiển xe mô tô biển số 47F1-016.41 đi về hướng thị trấn E tẩu thoát. Ông P1 nghi ngờ nên điều khiển xe đi tìm nhưng không thấy. Sau đó ông P1 làm đơn trình báo lên cơ quan Công an.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 17/BB-HĐ97 ngày 17/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện E kết luận: Xe mô tô biển số 47F1-016.41, nhãn hiệu YAMAHA, số loại JUPITER, màu sơn xanh đen, có giá trị là 12.000.000đ (Mười hai triệu đồng).

Vật chứng thu giữ gồm: 01(một) xe mô tô nhãn hiệu ZINDA, màu xanh, biển số 47N7-4739; (01) một điện thoại di động NOKIA C20 màu đen; 01(một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA JUPITER màu xanh đen, biển số 47F1-016.41 và 01(một) giấy phép lái xe hạng A1 số AR 710534 mang tên Lý Văn C1 do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 01/7/2011 có giá trị không thời hạn. Quá trình điều tra, Công an huyện E đã giao trả cho các chủ sở hữu hợp pháp.

Trong vụ án có đề cập đến vai trò của bà Vũ Thị Hồng V, là người mua điện thoại di dộng của bị cáo lừa đảo của ông Lê Viết C. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định bà V không biết tài sản do lừa đảo mà có nên các cơ quan tiến hành tố tụng không buộc bà V phải chịu trách nhiệm hình sự là phù hợp.

Tại bản cáo trạng số 57/CT-VKS ngày 26/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar đã truy tố: bị cáo Lưu Xuân P về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

- Tại phiên tòa, bị cáo Lưu Xuân P khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar đã truy tố.

- Trong quá trình điều tra, bị hại Lê Viết C trình bày: Vào khoảng 18 giờ 15 phút ngày 01/5/2024, Lưu Xuân P đến tiệm sửa xe của ông C để hỏi mua xe mô tô cũ và chọn mua xe mô tô nhãn hiệu ZINDA, màu xanh, biển số 47N7-4739 với giá 9.500.000₫, rồi mượn ông C điện thoại NOKIA C20 để gọi điện thoại cho người nhà đem tiền đến. Do trước đây P đã từng mua xe của ông C nên khi P yêu cầu được chạy thử xe thì ông C tin tưởng giao chìa khóa, xe và điện thoại cho P. Sau khi được giao xe thì P cầm điện thoại và điều khiển xe chạy đi nhưng ông C không thấy quay lại. Quá trình điều tra, ông C đã được nhận lại xe mô tô, giấy đăng ký xe môtô và điện thoại nên không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

- Trong quá trình điều tra, bị hại Nguyễn Văn P1 trình bày: Vào khoảng 18

3

giờ 10 phút ngày 09/5/2024, Lưu Xuân P đến tiệm S1 của ông P1 để hỏi mua xe mô tô cũ và chọn mua xe mô tô biển số 47F1-01641 nhãn hiệu YAMAHA JUPITER màu xanh đen với giá 8.000.000đ. Sau khi trao đổi thì P muốn được chạy thử xe nên ông P1 yêu cầu P đưa giấy tờ tùy thân thì P đưa cho ông P1 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Lý Văn C1 để làm tin. Sau đó, ông P1 đồng ý giao xe cho P rồi P điều khiển xe mô tô đi không quay lại. Quá trình điều tra, ông P1 đã được nhận lại xe mô tô nên không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

- Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lý Văn C1 trình bày: Vào khoảng 15 giờ ngày 03/4/2024, tôi điều khiển xe mô tô 47F1-523.71 đến nhà ông Nông Văn T1 tại thôn C, xã E, huyện E để đi làm. Khi đến nơi thì dựng xe ở phía trước nhà nhưng vẫn để chìa khóa cắm vào ổ khóa rồi ra sau làm việc. Đến 16 giờ cùng ngày thì phát hiện xe mô tô 47F1-523.71 đã bị lấy trộm cùng với giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Lý Văn C1 ở trong cốp xe. Do đó, ông C1 không biết việc bị cáo P lấy giấy phép lái xe hạng A1 của mình để đi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của ông Nguyễn Văn P1. Quá trình điều tra, ông C1 đã được nhận lại Giấy phép lái xe hạng A1 nên không có yêu cầu gì đối với bị cáo trong vụ án này. Ngoài ra, đối với hành vi trộm cắp xe mô tô 47F1-523.71 của bị cáo P thì hiện nay cơ quan điều tra đang xem xét xử lý trong vụ án khác.

- Trong quá trình điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị Hồng V trình bày: Khoảng 20 giờ ngày 01/5/2024, khi đang ở tiệm cầm đồ V 59 do bà V làm chủ thì có một người đàn ông (sau này biết là P) đến cửa hàng muốn cầm cố điện thoại NOKIA C20 màu đen, sau khi kiểm tra thì thấy điện thoại vẫn hoạt động tốt nên bà V đồng ý cầm cố với số tiền 500.000đ. Khi Công an đến làm việc bà V mới biết điện thoại do P lừa đảo mà có nên đã giao nộp điện thoại trên cho cơ quan điều tra và không yêu cầu P bồi thường gì thêm.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar thực hành quyền công tố luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lưu Xuân P phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Lưu Xuân P từ 01 (một) 04 (bốn) tháng đến 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm b Khoản 1, Khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2, điểm b Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: chấp nhận việc Công an huyện E đã giao trả cho ông Lê Viết C 01(một) xe mô tô nhãn hiệu ZINDA, màu xanh, biển số 47N7-4739 và (01) một điện thoại di động NOKIA C20 màu đen; trả cho ông Nguyễn Văn P1 01(một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA JUPITER màu xanh đen, biển số 47F1-01641 và trả cho ông Lý Văn C1 01(một) giấy phép lái xe hạng A1 số AR 710534 mang tên Lý Văn C1 do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 01/7/2011 có giá trị không thời hạn là các chủ sở hữu hợp pháp.

- Truy thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng) là số tiền do phạm tội mà có.

4

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Văn P1 và ông Lê Viết C; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị Hồng V không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đồng ý với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar và không tranh luận gì.

Tại phần lời nói sau cùng bị cáo tỏ thái độ ăn năn và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện E, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai của bị cáo Lưu Xuân P tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại; phù hợp lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận: Với mục đích tư lợi cá nhân, P đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác để lấy tiền tiêu xài cá nhân và mua ma túy để sử dụng nên vào ngày 01/5/2024 và ngày 09/5/2024, P đã có hành vi gian dối, giả vờ là người mua xe mô tô cũ chiếm đoạt của ông Lê Viết C 01(một) xe mô tô nhãn hiệu ZINDA, màu xanh, biển số 47N7-4739 có giá trị 4.000.000₫ và (01) một điện thoại di động NOKIA C20 màu đen có giá trị 450.000đ; chiếm đoạt của ông Nguyễn Văn P1 01(một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA JUPITER màu xanh đen, biển số 47F1-01641 có giá trị 12.000.000đ. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 16.450.000₫ (Mười sáu triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng).

Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, xâm phạm trật tự công cộng là khách thể được pháp luật đặc biệt quan tâm bảo vệ. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.

Do đó, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar đối với bị cáo Lưu Xuân P về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 174 Bộ luật hình sự quy định

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng

5

nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:”

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng do mục đích tư lợi, coi thường pháp luật, mà bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Ngày 01/5/2024 và ngày 09/5/2024, bị cáo 02 lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Ngày 18/8/2016, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An xử phạt 15 (mười lăm) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của bản án nên đã được xóa án tích và ngày 26/3/2020, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 (mười tám) tháng, tính đến thời điểm phạm tội bị cáo được coi là chưa bị xử phạt hành chính. Tuy nhiên, bị cáo P không coi đó là bài học để tự cải tạo thành người có ích cho xã hội mà tiếp tục phạm tội. Do đó, xác định bị cáo có nhân thân xấu, Hội đồng xét xử cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm tác dụng giáo dục, cải tạo riêng và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét nhân thân bị cáo phạm tội trong trường hợp gây thiệt hại không lớn; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ một phần hình phạt được quy định tại các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

Vì vậy, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo Lưu Xuân P là có căn cứ, cần chấp nhận.

[5] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Công an huyện E đã giao trả cho ông Lê Viết C 01(một) xe mô tô nhãn hiệu ZINDA, màu xanh, biển số 47N7-4739 và (01) một điện thoại di động NOKIA C20 màu đen; trả cho ông Nguyễn Văn P1 01(một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA JUPITER màu xanh đen, biển số 47F1-01641 là các chủ sở hữu hợp pháp. Giao trả cho ông Lý Văn C1 01(một) giấy phép lái xe hạng A1 số AR 710534 mang tên Lý Văn C1 do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 01/7/2011 có giá trị không thời hạn, quá trình điều tra xác định bị cáo do trộm cắp xe mô tô của ông Lý Văn C1 mà có được nên trả lại cho ông C1 là chủ sở hữu hợp pháp.

- Truy thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng) là số tiền do bị cáo P phạm tội mà có.

Xét việc xử lý vật chứng của Công an huyện E là có căn cứ, phù hợp với đề

6

nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, phù hợp với điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm b Khoản 1, Khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2, điểm b Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra, bị hại ông Nguyễn Văn P1 và ông Lê Viết C; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị Hồng V không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: bị cáo Lưu Xuân P phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[1] Xử phạt: Lưu Xuân P: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 30/5/2024.

[2] Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm b Khoản 1, Khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2, điểm b Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Chấp nhận việc Công an huyện E đã giao trả cho ông Lê Viết C 01(một) xe mô tô nhãn hiệu ZINDA, màu xanh, biển số 47N7-4739 và (01) một điện thoại di động NOKIA C20 màu đen; trả cho ông Nguyễn Văn P1 01(một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA JUPITER màu xanh đen, biển số 47F1-01641 và ông Lý Văn C1 01(một) giấy phép lái xe hạng A1 số AR 710534 mang tên Lý Văn C1 do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 01/7/2011 có giá trị không thời hạn là các chủ sở hữu hợp pháp

- Truy thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng) là số tiền do bị cáo P phạm tội mà có.

[3] Về trách nhiệm dân sự bị hại ông Nguyễn Văn P1 và ông Lê Viết C; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị Hồng V không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[4] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: bị cáo Lưu Xuân P phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.

7

Nơi nhận

  • -TAND tỉnh Đắk Lắk.
  • -Vụ giám đốc kiểm tra 1-
  • TAND Tối cao.
  • -Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk.
  • -VKSND huyện Ea Kar.
  • -Chi cục THADS huyện Ea Kar.
  • -Công an huyện Ea Kar.
  • -Cơ quan THAHS huyện Ea Kar.
  • -Bị cáo-đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ




Hồ Thị Thu Ba

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/HSST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA KAR, TỈNH ĐẮK LẮK về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 57/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA KAR, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lưu Xuân P lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger