1
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 57/2024/HS-ST
Ngày 24 tháng 6 năm 2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN,TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triều.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Thanh Liêm - Cán bộ hưu trí;
- Ông Trần Quang Thái - Phó Hiệu trưởng Trường THCS Định Mỹ.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Ông Dương Ngọc Sử, bà Bùi Phương Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 và ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
1/ Trịnh Văn C, sinh ngày 20/7/1998. Nơi cư trú: khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn D, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thanh N, sinh năm 1965; anh em ruột có ba người, bị cáo là người thứ ba; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 15/02/2023 đến ngày 12/7/2023 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2/ Lê Quốc V, sinh ngày 15/11/1999. Nơi cư trú: ấp K, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thanh H, sinh năm 1980 và bà Lê Thị T, sinh năm 1982; anh chị em ruột có hai người, bị cáo là người thứ nhất; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
2
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 30/8/2023 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3/ Danh Phương B (B), sinh ngày 11/5/1991. Nơi cư trú: khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Danh K, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Kim P, sinh năm 1969; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 01/9/2023 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
4/ Phan Văn T1, sinh ngày 23/4/2006. Nơi cư trú: khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn T2, sinh năm 1985 và bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1988; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; bị cáo chưa có vợ, con.
Ngày 20/12/2022, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T ra Quyết định khởi tố bị can về tội “Cố ý gây thương tích”.
Ngày 20/7/2023, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T ra Quyết định khởi tố bị can về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam trong vụ án khác từ ngày 14/9/2023 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
5/ Lưu Huỳnh T4, sinh ngày 03/6/2006. Nơi cư trú: ấp S, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Thành N1, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị Kim N2, sinh năm 1978; anh chị em ruột có ba người, bị cáo là người thứ ba; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam trong vụ án khác từ ngày 23/10/2023 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
6/ Trần Thanh S, sinh ngày 30/01/2005. Nơi cư trú: ấp H, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Đ (Nguyễn Văn Đ1), sinh năm 1985 và bà Phạm Thị T5, sinh năm 1986; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; bị cáo chưa có vợ, con.
Ngày 05/7/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xử phạt 04 năm 06 tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015
3
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 19/8/2023 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
7/ Hồ Ngọc H1, sinh ngày 07/7/2004. Nơi cư trú: khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn T6, sinh năm 1981 và bà Trần Thị Tuyết M, sinh năm 1976; anh em ruột có hai người, bị cáo là người thứ hai; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo được tại ngoại điều tra.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
8/ Đồng Văn H2, sinh ngày 11/01/2004. Nơi cư trú: ấp S, xã A, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đồng Văn Đ2, sinh năm 1973 và bà Trần Thị Thùy T7, sinh năm 1975; Anh chị em ruột có ba người, bị cáo là người thứ ba; vợ là Trần Thị P1, sinh năm 2003, bị cáo chưa có con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam trong vụ án khác cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
9/ Nguyễn Minh Đ3, sinh ngày 29/9/2004. Nơi cư trú: khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con bà Nguyễn Thị D1, sinh năm 1969; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam trong vụ án khác cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Phan Văn T1: Chị Nguyễn Thị T3, sinh năm 1988. Nơi cư trú: ấp S, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Lưu Huỳnh T4: Ông Lưu Thành N1, sinh năm 1972. Nơi cư trú: ấp S, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
Bị hại:
- Lê Quốc V, sinh ngày 15/11/1999 - Đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh A (là bị cáo trong vụ án).
- Chị Nguyễn Thị Thùy N3, sinh năm 1983. Nơi cư trú: ấp P, xã T, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
4
- Ông Lê Tấn S1, sinh năm 1960. Nơi cư trú: khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Hoài D2, sinh năm 1978. Nơi cư trú: khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Anh Huỳnh Văn C1, sinh năm 1983. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Bà Võ Thị Bé H3, sinh năm 1978. Nơi cư trú: khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Anh Huỳnh Văn Q, sinh năm 1998. Nơi cư trú: khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Anh Trịnh Văn L, sinh năm 1994. Nơi cư trú: khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Bà Trần Thị Đ4, sinh năm 1975. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
- Chị Lê Thị T, sinh năm 1982. Nơi cư trú: ấp K, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
- Anh Đồng Văn V1, sinh năm 1993. Nơi cư trú: ấp S, xã A, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
- Ông Trịnh Văn D, sinh năm 1970. Nơi cư trú: khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thanh N, sinh năm 1965. Nơi cư trú: khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị D1, sinh năm 1969. Nơi cư trú: khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
- Bà Trần Thị Tuyết M, sinh năm 1976. Nơi cư trú: khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
- Bà Nguyễn Thị Yến E, sinh năm 1967. Nơi cư trú: khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Người làm chứng:
- Chị Lê Thị T8, sinh năm 1993. Nơi cư trú: khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Anh Trần Ngọc T9, sinh ngày 26/6/2004. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Anh Quách Nhật T10, sinh ngày 01/7/2008. Nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Người đại diện theo pháp luật của Quách Nhật T10: Anh Quách Văn V2, sinh năm 1989 và chị Nguyễn Thị Hải H4, sinh năm 1990. Nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
5
- Anh Nguyễn Văn H5, sinh năm 1996. Nơi cư trú: ấp H, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
- Bà Huỳnh Thị H6, sinh năm 1977. Nơi cư trú: khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Anh Võ Văn T11, sinh năm 1986. Nơi cư trú: khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Anh Trần Trung T12, sinh năm 1985. Nơi cư trú: khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Thanh S2, sinh năm 1986. Nơi cư trú: khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Anh Hồ An T13, sinh ngày 15/3/2005. Nơi cư trú: khóm Đ, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Chị Bùi Thị Thúy A, sinh năm 1988. Nơi cư trú: ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Anh Đào Công D3, sinh năm 2003. Nơi cư trú: khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Phú Q1, sinh năm 1993 - Trại tạm giam Công an tỉnh A (vắng mặt).
- Anh Trần Thanh B1, sinh năm 2000. Nơi cư trú: khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Anh Trần Ngọc N4, sinh năm 2001. Nơi cư trú: khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Văn N5, sinh năm 1981. Nơi cư trú: khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Hoàng N6, sinh năm 2004. Nơi cư trú: khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Kim L1, sinh năm 2003. Nơi cư trú: khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Chị Vương Thị Hồng T14, sinh năm 2002. Nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Thanh T15, sinh năm 2001. Nơi cư trú: ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
Người bào chữa cho các bị cáo Phan Văn T1 và Lưu Huỳnh T4: Ông Phạm Minh T16 - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm T21 (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Lưu Huỳnh T4: Ông Nguyễn Đức K1 - Luật sư Văn phòng Luật sư Nguyễn Đức K1, thuộc đoàn Luật sư tỉnh A. Địa chỉ: số B L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).
6
Người bào chữa cho bị cáo Trịnh Văn C: Ông Lại Văn G - Luật sư Công ty L2, thuộc đoàn Luật sư tỉnh A. Địa chỉ: số C B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Đồng Văn H2: Bà Thái Thị Diễm T17 - Luật sư Công ty L3, thuộc đoàn Luật sư tỉnh A. Địa chỉ: số A, L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).
Người phiên dịch tiếng Khmer: Ông Liêu K2, cán bộ hưu trí thị trấn O, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 29/9/2022, Nguyễn Minh Đ3 tổ chức sinh nhật, hát karaoke tại phòng số 01, quán “Thùy Nhiên” ở khóm T, thị trấn Ó, huyện T cùng Lê Quốc V, Trần Thanh B1, Nguyễn Hoàng N6, Lê Tấn N7, Trần Ngọc N4, Nguyễn Văn N5, Nguyễn Kim L1, Nguyễn Thanh T15, Vương Thị Hồng T14, đến khoảng 21 giờ cùng ngày, V đi ngang phòng karaoke số 06 gặp Trịnh Văn C, Võ Văn T11, Võ Văn T18, Huỳnh Văn Q, Trịnh Văn L, Khưu Văn S3, Trần Trung T12 và người thanh niên tên S4 không xác định họ, địa chỉ là bạn của V nên V đứng lại nói chuyện với C. Lúc này, T11 nhìn thấy, nghĩ V đang cự cãi với C nên dùng tay đánh V nhưng không trúng. Bị đánh, V chạy về phòng số 01 cho cả nhóm biết thì V, Đ3, N7, B1 đi qua phòng số 06 định đánh lại T11 nhưng được can ngăn. Lúc này, V còn bực tức nên điện thoại cho Trần Ngọc T9, nhưng Trần Thanh S nghe máy rồi nói lại nội dung cho T9 biết V bị đánh ở quán T22 nhờ đến tiếp. Tại đây, T9, S rủ thêm hai người bạn không xác định được nhân thân đi trên 02 xe mô tô không rõ biển số đến quán “Thùy Nhiên” gặp V, Đ3 cùng đi qua phòng số 06, khi vào trong V, Đ3 mỗi người cầm một mũ bảo hiểm đánh T11, thấy T11 bị đánh Trịnh Văn C cầm ly thủy tinh đánh trả nhiều cái, trúng vào mặt V làm vỡ ly và dùng quai ly thủy tinh ném về phía V nên nhóm của V bỏ chạy ra ngoài, V lấy xe mô tô điều khiển chở Đ3 cùng S đến quán “Gió Sông” ở khóm T, thị trấn Ó, huyện T, nói lại việc bị đánh cho nhóm của Đồng Văn H2, Hồ Ngọc H1, Danh Phương B, Phan Văn T1, Lưu Huỳnh T4, Quách Nhựt T19, Đào Công D3, Hiếu Bảy N8, T20 cùng một số người thanh niên không rõ nhân thân nghe và V kêu “Anh em lấy đồ chém lại mấy thằng ở quán T22”. Cả nhóm đồng ý, V điều khiển xe mô tô chưa xác định biển số chở Đ3; Người thanh niên không rõ nhân thân điều khiển xe mô tô không rõ biển số chở B; T4 điều khiển xe mô tô loại Wave màu xanh không rõ biển số của T20 chở T20, H1 đến nhà của D3 ở khóm T, thị trấn Ó, huyện T lấy 03 cây dao tự chế mang theo; T19 điều khiển xe mô tô biển số 68KA-007.14 chở T1 đến nhà của Nguyễn Phú Q1 (Phèn) ở khóm T, thị trấn Ó, huyện T mượn 02 cây dao tự chế; S điều khiển xe mô tô không rõ biển số của T9 và người thanh niên không rõ nhân thân cầm theo 01 cây dao tự chế; Hiếu B điều khiển xe mô tô của N8 chở H2 đến quán “Thùy Nhiên”. Khi đến quán, V nhặt 01 cục đá cầm tay phải ném vào biển hiệu quán, T1, H1, S cầm dao tự chế; H2 cầm mũ bảo hiểm; B nhặt 02
7
chai bia thủy tinh, T4 nhặt 02 chai bia thủy tinh, T19 nhặt 01 chai bia, 01 ly thủy tinh chạy vào trong quán ném nhưng không trúng ai, và T19 lấy bình xịt chữa cháy xịt bọt chữa cháy vào trong quán và một số người khác không rõ nhân thân cầm dao chém vào các xe mô tô biển số 67S1-4932, 67M1-291.52, 67M1-421.93, 66P2-174.50 dựng trong quán làm hư hỏng nhiều bộ phận. Sau đó, Đ3, V bị ra nhiều máu nên nhóm của B đưa cả hai đến Trung tâm y tế huyện T điều trị, đến ngày 05/10/2022 ra viện. Cùng ngày 29/9/2022, Lê Thị T8 đến Công an thị trấn Ó trình báo.
Vật chứng, tài sản thu giữ gồm: 02 bình CO2 chưa sử dụng; 01 bình CO2 đã sử dụng; 06 viên đá (loại đá 04cm x 06cm); nhiều mảnh vỡ thủy tinh (ly uống bia) và vỏ chai nước ngọt Number 1 (loại chai thủy tinh) 01 xe mô tô biển số 67S1-4932; 01 xe mô tô biển số 67M1-291.52; 01 xe mô tô biển số 67M1-421.93; 01 xe mô tô biển số 66P2-174.50; 02 đĩa CD lưu trữ dữ liệu ghi hình diễn biến vụ án được thu giữ từ camera tại quán T22.
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 73/23/TgT ngày 06/02/2023 của Trung tâm pháp y - tỉnh T21, ghi nhận thương tích của Lê Quốc V:
- Sẹo thái dương phải hướng nằm xiên, kích thước (02 x 0.2)cm, sẹo lồi lõm (02 x 0.2)cm, sẹo lồi lõm, hồng, nằm trong chân tóc: tỷ lệ là 01%.
- 03 sẹo cung mày phải, sẹo hồng, lồi, nằm trong chân mày: Vết 01 kích thước (1.2 x 0.2)cm, tỷ lệ là 01%; Vết 02 kích thước (1.4 x 0.2)cm, tỷ lệ là 01%; Vết 03 kích thước (1.2 x 0.2)cm, tỷ lệ là 01%.
- Sẹo đầu trong mi dưới mắt phải, kích thước (0.4 x 0.2)cm, sẹo hồng tỷ lệ là 01%.
- Sẹo góc cánh mũi phải, kích thước (1.3 x 0.2)cm, sẹo lồi lõm, hồng tỷ lệ là 03%.
- 02 sẹo má phải: Vết 01 kích thước (02 x 0.4)cm, hướng nằm ngang, sẹo hồng, lồi, tỷ lệ là 03%; Vết 02 kích thước (4.5 x 0.2)cm, hướng đứng dọc, sẹo hồng, lồi, tỷ lệ là 03%. Tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 13%. Kết luận khác: Thương tích do vật có góc cạnh sắc gây nên.
Bản kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 06/01/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: 01 bảng hiệu hộp đèn Led bằng nhựa (3,5 x 01)m và chữ K, trị giá 3.710.000 đồng; 01 tấm kính màu trắng loại 10 ly, (1,5 x 01)m, trị giá 540.000 đồng; 01 tấm kinh màu bông loại 05 ly (1,6 x 1,2)m, trị giá 350.000 đồng; 01 màn hình tivi, màu đen, hiệu Sony 50inch, trị giá 3.000.000 đồng; Ốp sườn mủ bên phải của xe Wave S 66P2-174.50, trị giá 230.000 đồng; Ốp mủ nắp trước tay lái, nắp sau tay lái, ốp nhựa mặt đồng hồ, ốp nhựa đèn chiếu sáng phía trước và ốp nhựa đèn xi nhan phải phía trước, ốp mủ mặt nạ trước, Yếm xe bên trái, chắn bùn trước – bên phải, mặt trên - bên phải xe yên xe của xe Wave Alpha 67M1-421.93, trị giá 1.140.000 đồng; Ốp nhựa mặt đồng hồ, ốp sường bên phải của xe hon da AirBlade 67S1-
8
4932, trị giá 460.000 đồng; Ốp mủ nắp trước tay lái, chắn bùn trước, mặt nạ trước, yếm xe bên trái, yếm xe bên phải, mặt trên bên phải yên xe, ốp sườn phải,ốp nhựa khung nâng xe bên phải, ốp nhựa đèn hậu của xe 67M1-291.52, trị giá 1.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản định giá là 10.930.000 đồng.
Ngày 14/02/2023, 04/10/2023, 05/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã trao trả cho Nguyễn Thị Thùy N3 02 bình CO2 chưa sử dụng, 01 bình CO2 đã sử dụng; Trịnh Văn L xe mô tô 67M1-291.52; Võ Thị B2 Hai xe mô tô 67M1-421.93; Huỳnh Văn C1 xe mô tô 67S1-4932; Lê Tấn Sự xe mô tô 66P2-174.50.
Ngày 10/10/2022, Ủy ban nhân dân thị trấn Ó1, huyện T có Công văn số 507a/UBND đề nghị xử lý các đối tượng tham gia đánh nhau, gây mất an ninh trật tự tại địa phương.
Ngày 04/10/2022, 10/10/2022, Đ3, T11 có đơn từ chối giám định và không yêu cầu xử lý hình sự những người gây thương tích. Ngày 05/10/2022, V có đơn yêu cầu xử lý hình sự.
Ngày 04/11/2022, 17/8/2023, 30/8/2023, C, S, T9 có đơn từ chối giám định và không yêu cầu xử lý hình sự.
Ngày 10/02/2023 và ngày 27/7/2023, C, V, B, T4, T1, S, H2, Đ3, H1 bị khởi tố điều tra.
Tại Cáo trạng số 28/CT-VKS-HS ngày 18/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang đã truy tố Trịnh Văn C về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự; Lê Quốc V về các tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 178, điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự; Hồ Ngọc H1 về các tội “Gây rối trật tự công cộng”, “Khai báo gian dối” theo điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b khoản 3 Điều 382 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Minh Đ3, Phan Văn T1, Trần Thanh S, Đồng Văn H2, Danh Phương B, Lưu Huỳnh T4 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Trịnh Văn C, Lê Quốc V, Danh Phương B, Phan Văn T1, Lưu Huỳnh T4, Trần Thanh S, Đồng Văn H2, Nguyễn Minh Đ3 và Hồ Ngọc H1 đều khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, tất cả các bị cáo vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên.
Bị hại Lê Quốc V cũng là bị cáo trong vụ án khai nhận phù hợp như nội dung cáo trạng đã nêu; sau khi vụ án xảy ra, cha mẹ bị cáo C bồi thường chi phí điều trị số tiền 8.000.000 nên không yêu cầu bồi thường thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo C.
Bị hại Nguyễn Thị Thùy N3 (chủ quán T22) khai nhận phù hợp như nội dung vụ án đã nêu. Sau khi vụ án xảy ra đã nhận số tiền 4.000.000 đồng của Nguyễn Thị D1 mẹ bị cáo Đ3; nhận 4.000.000 đồng của Trần Thị Tuyết M mẹ
9
bị cáo H1; nhận 4.000.000 đồng của Đồng Văn V1 anh bị cáo H2, nhận 4.000.000 đồng của Lê Thị T mẹ bị cáo V, nhận 3.000.000 đồng của Trần Thị Đ4 mẹ của Trần Ngọc T9, nhận 5.000.000 đồng của Lê Thị Yến E1 bà nội của bị cáo T1 nên không yêu cầu bồi thường thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng đều khai nhận phù hợp như nội dung vụ án đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn luận tội đối với các bị cáo giữ nguyên truy tố như cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của các bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trịnh Văn C từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 11 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, khoản 1 Điều 178, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Quốc V từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; từ 06 tháng đến 01 năm tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Tổng hợp hình phạt 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt từ 03 năm đến 04 năm 06 tháng tù. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Danh Phương B từ 02 năm đến 03 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 56, Điều 58 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Đồng Văn H2 từ 02 năm đến 03 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp Bản án hình sự phúc thẩm số 50/2024/HS-PT ngày 12/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xử phạt bị cáo 02 năm tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Buộc bị cáo chấp hành chung cho 02 bản án từ 04 năm đến 05 năm tù. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 56, Điều 58 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Đ3 từ 02 năm đến 03 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST_ngày 24/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xử phạt Nguyễn Minh Đ3 02 năm tù giam, về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Buộc bị cáo chấp hành chung cho 02 bản án từ 04 năm đến 05 năm tù. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b khoản 3 Điều 382, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 56, Điều 58 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Hồ Ngọc H1 từ 02 năm đến 03 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; từ 03 năm đến 04 năm tù về tội “Khai báo gian dối”. Tổng hợp hình phạt 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt từ 05 năm đến 07 năm tù. Tổng hợp hình phạt bản án hình sự phúc thẩm số 50/2024/HS-PT ngày 12/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xử phạt bị cáo 05 năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích” và “Gây rối trật tự công cộng”. Buộc bị cáo chấp hành chung cho 02 bản án từ 10 năm đến 12 năm tù. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 56, Điều 58, Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ
10
luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Phan Văn T1 từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 11 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 24/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xử phạt bị cáo Phan Văn T1 03 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và “Gây rối trật tự công cộng”. Buộc bị cáo chấp hành chung cho 02 bản án từ 05 năm đến 05 năm 05 tháng tù. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 56, Điều 58, Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lưu Huỳnh T4 từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 11 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 24/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xử phạt bị cáo Lưu Huỳnh T4 01 năm 06 tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích” và “Gây rối trật tự công cộng”. Buộc bị cáo chấp hành chung cho 02 bản án từ 03 năm đến 03 năm 05 tháng tù. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 56, Điều 58, Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Trần Thanh S từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 11 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2023/HS-ST ngày 05/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xử phạt bị cáo Trần Thanh S 04 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Buộc bị cáo chấp hành chung cho 02 bản án từ 06 năm đến 06 năm 05 tháng tù.
Luật sư Nguyễn Đức K1 bào chữa cho bị cáo Lưu Huỳnh T4 không tranh luận với Kiểm sát viên về điểm, khoản và điều luật áp dụng, chỉ nêu lên các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, giảm nhẹ hơn mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
Trợ giúp viên pháp lý Phạm Minh T16 bào chữa cho bị cáo Phan Văn T1, Lưu Huỳnh T4 đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, có thể xử phạt hai bị cáo mức án từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù là phù hợp để các bị cáo sớm trở về đoàn tụ gia đình.
Luật sư Lại Văn G bào chữa cho bị cáo Trịnh Văn C không tranh luận với Kiểm sát viên về điểm, khoản và điều luật áp dụng, chỉ nêu lên các tình tiết giảm và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; có thể xử phạt bị cáo C mức án 01 năm tù cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo.
Luật sư Thái Diễm T17 đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc truy tố bị cáo H2 về tội danh và điều luật đã viện dẫn. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, có thể áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
Các bị cáo nhất trí với bản luận cứ bào chữa nêu trên của người bào chữa; đồng thời không bào chữa bổ sung gì khác. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận.
11
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa; bị cáo, bị hại, người làm chứng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và tất cả những người làm chứng đều vắng mặt không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy sau khi vụ án xảy ra; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ trước tòa. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai các bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra thu thập khách quan đúng quy định pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đầy đủ căn cứ để kết luận:
Ngày 29/9/2022, Trịnh Văn C đã thực hiện hành vi dùng ly thủy tinh là hung khí nguy hiểm đánh Lê Quốc V gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 13%.
Lê Quốc V, Danh Phương B, Phan Văn T1, Lưu Huỳnh T4, Trần Thanh S, Hồ Ngọc H1, Đồng Văn H2, Nguyễn Minh Đ3 sử dụng dao tự chế, mũ bảo hiểm, gạch, đá, chai, ly thủy tinh, bình chữa cháy, ném, đập phá tài sản quán “Thùy Nhiên” do Nguyễn Thị Thùy N3 làm chủ gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn tại địa phương. Đồng thời, V dùng đá ném vỡ bảng hiệu hộp đèn Led bằng nhựa của quán làm hư hỏng tài sản trị giá 3.710.000 đồng.
Hồ Ngọc H1 biết rõ Lê Quốc V là người ném biển hiệu quán gây hư hỏng nhưng H1 khai gian dối nhận tội thay cho V làm bỏ lọt hành vi phạm tội của V.
Hành vi nêu trên của bị cáo Trịnh Văn C đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 06 năm; Lê Quốc V phạm tội “Cố ý làm hư hỏng sản”, “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm và theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07
12
năm; Hồ Ngọc H1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”, “Khai báo gian dối” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm và điểm b khoản 3 Điều 382 Bộ luật hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
Nguyễn Minh Đ3, Phan Văn T1, Trần Thanh S, Đồng Văn H2, Danh Phương B, Lưu Huỳnh T4 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của công dân, tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương, làm cho quần chúng nhân dân lên án và bất bình.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội pham, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy:
Các bị cáo trong vụ án là những người có đầy đủ khả năng nhận thức được việc nào đúng, việc nào sai, nhưng do xem thường pháp luật đã dẫn các bị cáo vào con đường phạm tội. Đây là vụ án có nhiều bị cáo, thực hiện nhiều tội phạm, mỗi bị cáo đều thể hiện hành vi, vai trò khác nhau trong quá trình thực hiện tội phạm, nên cần phải phân hóa tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo để quyết định hình phạt cho phù hợp.
Trước hết đối với tội Cố ý gây thương tích, bị cáo Trịnh Văn C là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được rằng hành vi sử dụng ly thủy tinh là hung khí nguy hiểm đánh vào người khác sẽ nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe, do xem thường pháp luật bị cáo vẫn cố ý thực hiện; khi thấy nhóm bị cáo V vào đánh T11, bị cáo không khuyên can mà còn bênh vực T11, bị cáo sử dụng ly thủy tinh đánh trả lại V và làm V bị thương tích 13%. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm khắc, phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
Đối với nhóm tội Gây rối trật tự công cộng; mặc dù các bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm, nhưng không có sự chuẩn bị và bàn bạc từ trước, hành vi của các bị cáo chỉ mang tính tự phát, không có sự câu kết chặt chẽ, chỉ cấu thành đồng phạm giản đơn, nhưng cần phân hóa rõ, đánh giá tính chất, vai trò từng bị cáo.
Đối với bị cáo Lê Quốc V, bị cáo bị T11 và C đánh gây thương tích nên tức giận điện thoại rủ rê, lôi kéo các bị cáo còn lại đem theo hung khí đến quán T22 để tìm nhóm C đánh. Bị cáo giữ vai trò chính trong vụ án, đồng thời xúi giục bị cáo S, T1, T4 khi chưa đủ 18 tuổi tham gia phạm tội. Ngoài ra, bị cáo còn nhặt đá ném vỡ bảng hiệu đèn led của quán, gây thiệt hại 3.710.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm cùng lúc hai khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ đó là xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội và xâm hại đến tài sản của công dân nên cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc.
13
Đối với các bị cáo Danh Phương B, Đồng Văn H2, các bị cáo giữ vai trò giúp sức cho bị cáo V trong thực hiện hành vi phạm tội. Khi được bị cáo Lê Quốc V đến kêu lấy hung khí tiếp đánh nhóm của C, lẽ ra các bị cáo phải từ chối, khuyên ngăn nhưng vẫn cố ý thực hiện. Khi đến quán T22 bị cáo B sử dụng 02 chai thủy tinh, bị cáo H2 sử dụng mũ bảo hiểm chạy vào quán tìm nhóm của C để đánh, chính hành vi của các bị cáo dẫn đến hàng loạt hành vi phá phách, đập phá tài sản của các bị cáo khác tại quán. Xét nhân thân bị cáo H2 thấy, sau khi thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này, đến ngày 17/12/2022, bị cáo lại tiếp tục cùng đồng phạm thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng vào ngày 24/01/2024 đã bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn tuyên phạt bị cáo 02 năm tù. Từ đây cho thấy, bị cáo H2 chưa nhận thức được hành vi của mình, thể hiện ý thức xem thường pháp luật của bị cáo.
Đối với bị cáo Hồ Ngọc H1 khi được bị cáo Lê Quốc V kêu lấy hung khí tiếp đánh nhóm của C bị cáo đồng ý ngay, bị cáo trực tiếp cùng với T4 đến nhà D3 lấy 03 cây dao tự chế mang đến quán T22. Khi đến quán, bị cáo tham gia tích cực như cầm dao, gạch, đá ném vào quán Thùy Nhiên, la hét gây náo loạn tại nơi xảy ra vụ án, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội. Ngoài hành vi trên, bị cáo trực tiếp chứng kiến bị cáo V dùng đá ném vỡ bảng hiệu hộp đèn Led bằng nhựa của quán “Thùy Nhiên” nhưng quá trình điều tra đã khai báo gian dối, nhận tội thay cho bị cáo V mà không bị ai ép buộc, đe dọa. Chính hành vi khai báo gian dối, nhận tội của bị cáo H1 dẫn đến việc Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung, tránh oan sai cho bị cáo và bỏ lọt hành vi phạm tội của bị cáo Lê Quốc V.
Xét nhân thân bị cáo H1 thì thấy, sau khi thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này, bị cáo lại tiếp tục phạm tội “Cố ý gây thương tích và “Gây rối trật tự công cộng” và đã bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xử phạt bị cáo 02 tội với mức án 05 năm tù, đều đó cho thấy ý thức bị cáo xem thường pháp luật, nên cần phải xử phạt nghiêm đối với bị cáo.
Đối với các bị cáo Lưu Huỳnh T4, Phan Văn T1, Trần Thanh S là những người chưa thành niên, nhưng không chịu lo học tập, tu dưỡng để giúp ích cho gia đình mà sớm lao vào con đường phạm tội, khi được V rủ rê, lôi kéo tìm hung khí đánh trả thù nhóm C, các bị cáo đã đồng ý và đã tham gia giúp sức tích cực cho hành vi gây rối; trong đó bị cáo T4 chở T20, H1 đến nhà D3 lấy 03 cây dao tự chế và bị cáo T1 cùng T19 đến nhà Q1 lấy 02 cây dao tự chế và bị cáo S chở người chưa xác định mang theo 01 cây dao tự chế. Khi đến quán, bị cáo T1 tiếp tục cầm dao, bị cáo T4 cầm 02 chai thủy tinh ném vào quán. Các bị cáo đã sử dụng dao tự chế, ly thủy tinh tham gia cùng bị cáo V gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự công cộng.
Xét nhân thân các bị cáo Lưu Huỳnh T4, Phan Văn T1, Trần Thanh S, các bị cáo có nhân thân xấu, sau khi phạm tội trong vụ án này lại tiếp tục thực hiện nhiều tội phạm khác và bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử tuyên phạt mức án thích đáng đều đó cho thấy ý thức xem thường pháp luật của các bị cáo, nên cần áp dụng hình phạt nghiêm để răn đe và phòng ngừa chung.
14
Đối với, bị cáo Nguyễn Minh Đ3 tuy không trực tiếp sử dụng hung khí tham gia cùng các bị cáo khác nhưng bị cáo biết các bị cáo khác chuẩn bị hung khí để đến tìm nhóm C đánh trả thù và bị cáo tiếp nhận ý chí bằng việc giúp sức chở V đến quán T22 cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội nên bị cáo phải chịu trách nhiệm tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội bị cáo đã gây ra.
[4] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Lê Quốc V xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội nên thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa tất cả các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng đối với bị cáo C sau khi vụ án xảy ra đã khắc phục hậu quả cho bị hại V số tiền 8.000.000 đồng; ngoài ra các bị cáo Đ3, T1, H1, H2, V đã tự nguyện khắc phục hậu quả cho bị hai Nhiên nên được áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[6] Đối với bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý và các Luật sư cho các bị cáo, thì các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận một phần khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
[7] Đối với bị cáo Phan Văn T1, Lưu Huỳnh T4, Trần Thanh S, Đồng Văn H2, Nguyễn Minh Đ3, Hồ Ngọc H1 khi quyết định hình phạt cần tổng hợp hình phạt các bản án hình sự có hiệu lực pháp luật đối với các bị cáo.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận đủ tiền bồi thường và không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy các công cụ, phương tiện và tài sản không có giá trị sử dụng liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo.
[9] Đối với Quách Nhật T10 sinh ngày 01/7/2008 điều khiển xe mô tô chở Phan Văn T1 cầm dao tự chế và sử dụng bình chữa cháy xịt vào quán Thùy Nhiên là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, tính đến ngày phạm tội T10 được 14 năm 02 tháng 28 ngày tuổi, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T có công văn đề nghị Ủy ban nhân dân xã B, huyện T áp dụng biện pháp hành chính đối với T10 là có căn cứ.
Đối với Trần Ngọc T9 tham gia đánh nhau tại phòng số 06, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T có Công văn đề nghị Công an thị trấn Ó, huyện T xử phạt vi phạm hành chính đối với T9 là có căn.
Đối với Phan Văn T1 khai đến nhà Nguyễn Phú Q1 (P2) mượn 02 cây dao tự chế, do Q1 không thừa nhận, quá trình đối chất chưa đủ căn cứ quy kết trách nhiệm hình sự Quí về hành vi gây rối trật tự công cộng với vai trò đồng phạm giúp sức.
Đối với Trịnh Văn C, Nguyễn Minh Đ3, Trần Thanh S, Trần Ngọc T9, Võ Văn T11 bị đánh gây thương tích, nhưng không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và
15
từ chối giám định thương tích đối với người gây thương tích nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T không xem xét xử lý là có căn cứ.
Đối với người tên T20, Hiếu Bảy N8 và người thanh niên chở B do chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T tiếp tục làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Các tài sản 01 tấm kính màu trắng loại 10 ly, (1,5 x 01)m, trị giá 540.000 đồng; 01 tấm kinh màu bông loại 05 ly (1,6 x 1,2)m, trị giá 350.000 đồng; 01 màn hình tivi, màu đen, hiệu Sony 50inch, trị giá 3.000.000 đồng; Ốp sườn mủ bên phải của xe Wave S 66P2-174.50, trị giá 230.000 đồng; Ốp mủ nắp trước tay lái, nắp sau tay lái, ốp nhựa mặt đồng hồ, ốp nhựa đèn chiếu sáng phía trước và ốp nhựa đèn xi nhan phải phía trước, ốp mủ mặt nạ trước, Yếm xe bên trái, chắn bùn trước - bên phải, mặt trên - bên phải xe yên xe của xe Wave Alpha 67M1-421.93, trị giá 1.140.000 đồng; Ốp nhựa mặt đồng hồ, ốp sường bên phải của xe hon da AirBlade 67S1-4932, trị giá 460.000 đồng; Ốp mủ nắp trước tay lái, chắn bùn trước, mặt nạ trước, yếm xe bên trái, yếm xe bên phải, mặt trên bên phải yên xe, ốp sườn phải,ốp nhựa khung nâng xe bên phải, ốp nhựa đèn hậu của xe 67M1-291.52, trị giá 1.500.000 đồng. Do chưa xác định được người gây ra hư hỏng các tài sản trên nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã ra quyết định tách vụ án hình sự để tiếp tục điều tra xử lý theo quy định của pháp luật.
[10] Về các vấn đề khác: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trịnh Văn C (N) phạm tội “Cố ý gây thương tích”; bị cáo Lê Quốc V phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” và “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; các bị cáo Danh Phương B (B), Phan Văn T1, Lưu Huỳnh T4, Trần Thanh S, Đồng Văn H2, Nguyễn Minh Đ3 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”; bị cáo Hồ Ngọc H1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” và tội “Khai báo gian dối”.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015
Xử phạt bị cáo Trịnh Văn C (Nòng Nọc) 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án (có khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 15/02/2023 đến ngày 12/7/2023)
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, khoản 1 Điều 178, điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Lê Quốc V 03 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và 06 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Tổng hợp hình phạt hai tội, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung 03 năm 6 tháng tù.Thời hạn tù được tính từ ngày 30 tháng 8 năm 2023.
16
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015
Xử phạt bị cáo Danh Phương B (B) 02 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 01 tháng 9 năm 2023.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 56, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015
Xử phạt bị cáo Đồng Văn H2 02 năm 06 tháng tù. Tổng hợp hình phạt bản án hình sự phúc thẩm số 50/2024/HS-PT ngày 12/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xử phạt bị cáo 02 năm tù. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung hai bản án 04 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 25 tháng 7 năm 2023.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Đ3 02 năm 06 tháng tù. Tổng hợp hình phạt bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 24/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xử phạt bị cáo 02 năm tù. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung hai bản án 04 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 25 tháng 7 năm 2023.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b khoản 3 Điều 382, điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 56, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015
Xử phạt bị cáo Hồ Ngọc H1 02 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và 03 năm tù về tội “Khai báo gian dối”. Tổng hợp hình phạt chung hai tội 05 năm tù. Tổng hợp hình phạt bản án hình sự phúc thẩm số 50/2024/HS-PT ngày 12/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xử phạt bị cáo 05 năm tù. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung hai bản án 10 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 20 tháng 12 năm 2022.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 56, Điều 58, Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015
Xử phạt bị cáo Phan Văn T1 01 năm 06 tháng tù. Tổng hợp hình phạt bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 24/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xử phạt bị cáo 03 năm 06 tháng tù. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung hai bản án 05 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 20 tháng 12 năm 2022.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 56, Điều 58, Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015
Xử phạt bị cáo Lưu Huỳnh T4 01 năm 06 tháng tù. Tổng hợp hình phạt bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 24/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung hai bản án 03 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 24 tháng 10 năm 2023.
17
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 56, Điều 58, Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015
Xử phạt bị cáo Trần Thanh S 01 năm 06 tháng tù. Tổng hợp hình phạt bản án hình sự sơ thẩm số 03/2023/HS-ST ngày 05/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xử phạt bị cáo 04 năm 06 tháng tù. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung hai bản án 06 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 07 tháng 10 năm 2022.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tuyên bố tịch thu tiêu hủy: 06 viên đá (loại đá 04cm x 06cm); nhiều mảnh vỡ thủy tinh (ly uống bia) và vỏ chai nước ngọt Number 1 (loại chai thủy tinh), tất cả đã qua sử dụng. (Các vật chứng này hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 61/QĐ-VKSTS, ngày 09/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn).
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trịnh Văn C (N), Lê Quốc V, Danh Phương B (B), Phan Văn T1, Lưu Huỳnh T4, Trần Thanh S, Đồng Văn H2, Nguyễn Minh Đ3 và Hồ Ngọc H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Các bị cáo, bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Triều |
18
Bản án số 57/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 57/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trịnh Văn Cảnh và đồng phạm phạm tội Cố ý gây thương tishc và Gây rối trật tự công cộng
