Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM THUẬN BẮC

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Húc

Bản án số: 57/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24/5/2024

V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành Hần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm Hán - Chủ tọa Hiên tòa: Bà Trần Thu Thúy

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Thành Hiếu
  2. Ông Trần Văn Em

- Thư ký Hiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 67/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024, quyết định hoãn Hiên tòa số 44/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà H, sinh năm 1982

Địa chỉ: Tổ 3, thôn s, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

Bị đơn: Ông Ng, sinh năm 1982

Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

Các đương sự vắng mặt tại Hiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà H trình bày: Bà và ông Ng tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau và đăng ký kết hôn ngày 13/12/2012 tại Ủy ban nhân dân xã H. Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Hiện nay, bà và ông D đã không còn sống chung, không còn quan tâm nhau, không còn chăm sóc nhau, mạnh ai náy sống. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nên bà khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông D.

Về con chung: Bà và ông D có 01 con chung là cháu Đ, sinh ngày 24/8/2013. Hiện nay cháu Đạt đang chung sống với bà. Khi ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con.

Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Ng: Quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại Hiên tòa, ông D đều vắng mặt không có lý do. Không có văn bản thể hiện ý kiến của ông D về yêu cầu khởi kiện của bà H. Vì vậy, vụ án không tiến hành hòa giải được và Tòa án đưa vụ án ra xét xử công khai theo quy định của Háp luật tố tụng dân sự.

Tại Hiên tòa, bà H vắng mặt do có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn ông Ng vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại Hiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ Háp luật tranh chấp và thẩm quyền:

Nguyên đơn bà H khởi kiện yêu cầu ly hôn, giải quyết con chung với bị đơn ông Ng. Bị đơn có địa chỉ và sinh sống ở Thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định quan hệ Háp luật tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Nguyên đơn bà H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Ng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia Hiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là Hù hợp quy định của Háp luật tại Điều 227, 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông Ng tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau và đăng ký kết hôn ngày 13/12/2012 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên quan hệ hôn nhân của hai đương sự là hợp Háp theo quy định tại Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.

Theo bà H, sau khi kết hôn, ông D không lo làm ăn, chỉ lo chơi bời lêu lổng, không quan tâm vợ con, mặc dù đã nhiêu lần chị khuyên bảo nhưng ông vẫn không thay đổi. Hiện nay, bà và ông D không còn chung sống, không còn quan tâm nhau, không còn chăm sóc nhau, mạnh ai náy sống, không còn liên lạc để hàn gắn tình cảm. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nên khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông D. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải nhằm tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ với nhau nhưng ông D vắng mặt chứng tỏ ông D không có thiện chí muốn hàn gắn mối quan hệ vợ chồng với bà H.

Xét thấy, vợ chồng Hải có nghĩa vụ yêu thương, tôn trọng, chung thủy, quan tâm, chăm sóc nhau. Nhưng giữa bà H và ông D không thực hiện được nghĩa vụ vợ chồng với nhau, không còn quan tâm, chăm sóc nhau, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho bà H ly hôn với ông D là Hù hợp với thực tế và đúng qui định của Háp luật.

Về con chung: Khi ly hôn, bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung là cháu Đ, sinh ngày 24/8/2013. Xét thấy, hiện nay cháu Đạt đang được bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy, cuộc sống hiện tại của mẹ con bà H đang ổn định, cháu Đạt còn nhỏ cần có sự chăm sóc của người mẹ, cháu Đạt cũng có nguyện vọng được sống với mẹ nên việc để bà H được tiếp tục nuôi dưỡng con là Hù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung, nợ chung: Bà H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

[3]. Về án Hí: Bà H Hải chịu án Hí ly hôn sơ thẩm theo Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Ông D không Hải chịu án Hí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

  • — Khoản 2 Điều 21, Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 70, Điều 143, Điều 144, Điều 145, Điều 146, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • — Điều 8, khoản 1 Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • — Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án Hí và lệ Hí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H.

Về hôn nhân: Bà H được ly hôn với ông Ng.

Về con chung: Giao con chung tên Đ, sinh ngày 24/8/2013 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng.

Ông Ng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.

Về án Hí:

Bà H Hải chịu 300.000 đồng án Hí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án Hí, lệ Hí số 0012078 ngày 06 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Bà H đã nộp đủ án Hí ly hôn sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo:

Bà H và ông Ng có quyền kháng cáo trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của Háp luật.

Nơi nhận:

  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - VKS nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc;
  • - Cơ quan THADS huyện Hàm Thuận Bắc;
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM HÁN - CHỦ TỌA HIÊN TÒA

Trần Thu Thúy


Nguyễn Văn Quản

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Húc

Thị xã Lagi, ngày 21 tháng 7 năm 2016

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

Với thành Hần Hội đồng xét xử Húc thẩm gồm có:

- Thẩm Hán - Chủ tọa Hiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thái

- Các thẩm Hán: Bà Trần Thị Ánh Tuyết và Bà Trần Thị Thiên Hương

Căn cứ vào các Điều 199; 222; 247 và khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự.

Ngày 26/7/2016, tại Hòng nghị án Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, Hội đồng xét xử Húc thẩm đã tiến hành nghị án đối với vụ án Lê Bá Thủy Hạm tội “Chứa mại dâm”.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại Hiên tòa Húc thẩm, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và bị cáo tại Hiên tòa; Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề Hải giải quyết trong vụ án và quyết định như sau:

+ 3/3 ý kiến thống nhất:

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Lê Bá Thủy, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 18/2016/HSST ngày 11/5/2016 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh.

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Bá Thủy, Hạm tội "Chứa mại dâm”.

Áp dụng điểm p khoản 1 điều 46, khoản 1 Điều 254 Bộ luật hình sự xử Hạt Lê Bá Thủy 18 tháng tù (được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam trước từ ngày 13/01/2016 đến ngày 14/03/2016) thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.

2. Về biện Háp tư Háp:

- Áp dụng điểm đ khoản 2 điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 02 võ bao cao su, 3 bao cao su đã qua sử dụng, 5 bao cao su chưa sử dụng, 2 tuýt nhựa hiệu KY.

- Áp dụng điểm a khoản 1 điều 41 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu sung quỹ nhà nước 01 ĐTDĐ hiệu Viettel.

- Áp dụng điểm b khoản 1 điều 41 Bộ luật hình sự, điểm c khoản 2 điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu sung quỹ nhà nước 750.000 đồng

- Áp dụng điểm b khoản 2 điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại cho Lê Bá Thủy 3 hộp bao cao su và 310.000 đồng. Tuy nhiên cần tạm giữ số tiền 310.000 đồng để đảm bảo thi hành án.

3. Về án Hí:

Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 22; khoản 1 Điều 23 Háp lệnh án Hí, lệ Hí toà án của UBTVQH 12 ngày 27/02/2009;

Buộc Lê Bá Thủy Hải chịu 200.000 đồng án Hí hình sự sơ thẩm, 200.000 đồng án Hí hình sự Húc thẩm, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực Háp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án Húc thẩm có hiệu lực Háp luật kể từ ngày tuyên án 26/7/2016

+ Các ý kiến khác không đồng ý: Không có

Biên bản lập xong cùng ngày. Chủ tọa Hiên tòa đọc lại cho Hội đồng xét xử Húc thẩm nghe, công nhận đúng và cùng thống nhất ký tên:

CÁC THẨM HÁN

THẨM HÁN – CHỦ TỌA HIÊN TÒA

Lê Thị Thanh Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/HNGĐ-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 57/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger