Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG

TỈNH SÓC TRĂNG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 57/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 23 – 8 – 2024

V/v: "Ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Thanh Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Hữu Thắng
  2. Bà Trần Cẩm Thanh

Thư ký phiên tòa: bà Phan Thị Bích Ngọc, Thư ký viên Toà án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 115/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2024, về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 423/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: bà Dư Thị Hồng C, sinh năm 1974; địa chỉ: số F, đường L, Khóm D, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

- Bị đơn: ông Trần Văn T, sinh năm 1974; địa chỉ: số F, đường L, Khóm D, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 21 tháng 6 năm 2024 và các lời khai tại Toà án nguyên đơn bà Dư Thị Hồng C trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: bà và ông T quen biết với nhau khoảng 01 năm thì đi đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không ai bị ép buộc và có tổ chức lễ cưới; sau lễ cưới bà C và ông T có đi đăng ký kết hôn vào ngày 16/01/1999 tại U, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Đến năm 2012 phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không được êm ấm, hạnh phúc nữa, thường xuyên có những mâu thuẫn xích mích, bất đồng xảy ra. Nguyên nhân chính là do ông T không tôn trọng bà, ông T thường hay uống rượu về khuya gây ồn ào, bà không ngủ được; có lần ông T đánh bà và bà cũng tức giận đã lấy xăng ra định đốt nhà, khoảng 03 năm nay thì ông T ít khi về nhà chăm sóc vợ con (khoảng 2 đến 3 tháng về một lần hoặc 07 ngày đến 08 ngày về nhà được khoảng 1 giờ đến 2 giờ thì đi tiếp), khi về đến nhà ông T chỉ ngồi trước cửa được một lúc thì đi tiếp; những lúc bà bệnh phải đi cấp cứu nhưng ông T cũng không có mặt ở nhà để chăm sóc bà; về tài chính gia đình bà tự lo, ông T không có phụ giúp. Từ khi xảy ra mâu thuẫn vợ chồng đã tự hàn gắn với nhau nhiều lần nhưng không được. Hiện nay, bà và ông T không còn thương yêu, chăm sóc lẫn nhau.

- Về con chung: có 02 người con chung tên Trần Thăng T1, sinh ngày 01/10/1999 và Trần Thị Tú A, sinh ngày 27/5/2005. Hiện nay, các con đã trưởng thành, tự nuôi sống được bản thân nên không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết về trách nhiệm người trực tiếp nuôi dưỡng con sau khi bà và ông T ly hôn.

- Về tài sản chung: có 01 căn nhà gắn liền với đất toạ lạc số 680/14, đường L, Khóm D, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng không yêu cầu phân chia, vợ chồng tự thoả thuận.

- Về nợ chung: không có

Bà Dư Thị Hồng C yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề như sau:

  • - Về quan hệ hôn nhân: yêu cầu cho bà được ly hôn với ông Trần Văn T.
  • - Về con chung: các con đã trưởng thành, tự nuôi sống được bản thân, không có bệnh tật nên không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết trách nhiệm người trực tiếp nuôi con sau khi bà ly hôn với ông T.
  • - Về tài sản chung: tự thoả thuận, không yêu cầu giải quyết.
  • - Về nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết.

Theo Biên bản hoà giải ngày 25 tháng 7 năm 2024 và các lời khai tại Toà án bị đơn ông Trần Văn T trình bày: ông thống nhất với lời trình bày của bà C về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung nhưng về nguyên nhân mâu thuẫn thì không thống nhất, vì ông chỉ có đánh đập vợ 01 lần thời gian trước đây nhưng thời gian gần đây ông đã thay đổi, không còn nữa. Do công việc của ông làm bảo vệ nên ít khi về nhà được, những lúc bà C bị bệnh ông cũng muốn chăm sóc nhưng bà C không cho; về tài chính trong gia đình thì ông cũng là người lo cho con đi học, đi nghĩa vụ quân sự. Nay ông không đồng ý ly hôn, vì còn tình cảm vợ chồng với nhau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: bà Dư Thị Hồng C và ông Trần Văn T là vợ chồng trong thời gian chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn nên bà C xin ly hôn với ông T. Cho nên, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: vụ án trên được xác định quan hệ pháp luật theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự và bị đơn có địa chỉ thường trú tại thành phố S theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: bà Dư Thị Hồng C và ông Trần Văn T kết hôn vào năm 1999, có đi đăng ký kết hôn tại U, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 16/01/1999. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc; tại thời điểm đăng ký kết hôn bà C và ông T đều đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình, nên hôn nhân của bà C và ông T là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận.

[4] Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Dư Thị Hồng C: thấy rằng, theo lời trình bày của bà C, sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống với nhau khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn, đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng sống không hạnh phúc. Theo bà C cho rằng, nguyên nhân chính là do ông T không tôn trọng bà, những lúc bà bị bệnh ông T không có chăm sóc; ông T thường hay uống rượu về khuya, vợ chồng thường xuyên cự cãi với nhau, có lần ông T đánh bà; khoảng 03 năm nay thì ông T ít khi về nhà chăm sóc vợ con. Sau khi xảy ra mâu thuẫn vợ chồng cũng đã tự hàn gắn với nhau nhiều lần nhưng không được. Hội đồng xét xử cũng đã động viên bà C hàn gắn lại tình cảm vợ chồng với ông T, nhưng bà vẫn kiên quyết ly hôn. Từ những phân tích trên cho thấy thực trạng mâu thuẫn giữa bà C và ông T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài; hiện nay, bà C và ông T không còn thương yêu và chăm sóc lẫn nhau thể hiện mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà C.

[5] Về con chung: bà C và ông T có 02 người con chung tên Trần Thăng T1, sinh ngày 01/10/1999 và Trần Thị Tú A, sinh ngày 27/5/2005. Hiện nay, đã trưởng thành có cuộc sống riêng và tự nuôi sống được bản thân, các bên không có yêu cầu Toà án xem xét trách nhiệm người nuôi dưỡng con sau khi ly hôn. Do đó, Toà án không đặt ra xem xét giải quyết trách nhiệm người trực tiếp nuôi dưỡng con sau khi bà C ly hôn với ông T.

[6] Về tài sản chung: bà Dư Thị Hồng C và ông Trần Văn T tự thoả thuận, không có yêu cầu Toà án giải quyết vụ án. Cho nên, Toà án không đặt ra xem xét giải quyết.

[7] Về nợ chung: bà Dư Thị Hồng C và ông Trần Văn T trình bày không có nợ chung và cũng không có yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, nên Toà án không đặt ra xem xét giải quyết.

[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: căn cứ và khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà Dư Thị Hồng C phải chịu án phí là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền bà C đã nộp tạm ứng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng: Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Áp dụng: điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: bà Dư Thị Hồng C được ly hôn với ông Trần Văn T.
  2. Về con chung: bà C và ông T có 02 người con chung tên Trần Thăng T1, sinh ngày 01/10/1999 và Trần Thị Tú A, sinh ngày 27/5/2005. Hiện nay, đã trưởng thành, tự nuôi sống được bản thân và các bên không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết về trách nhiệm người trực tiếp nuôi dưỡng con sau khi ly hôn. Cho nên Toà án không đặt ra xem xét trách nhiệm người trực tiếp nuôi dưỡng, cấp dưỡng con sau khi bà C ly hôn với ông T.
  3. Về tài sản chung: bà Dư Thị Hồng C và ông Trần Văn T tự thoả thuận, Toà án không có xem xét giải quyết.
  4. Về nợ chung: Toà án không có xem xét giải quyết.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Dư Thị Hồng C phải chịu là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà C đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001859 ngày 21/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng; bà C đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
  6. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND -TPST;
  • - Chi cục THADS-TPST;
  • - TAND - TST;
  • - UBND Phường 2, TPST;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Nguyễn Văn Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/HNGĐ-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn

  • Số bản án: 57/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Dư Thị Hồng C xin ly hôn với ông Trần Văn T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger