|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 57/2024/HS-ST
Ngày: 23 – 4 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Thành và ông Đỗ Văn Kha.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nga - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Dũng - Kiểm sát viên
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 15/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2024.
1. Họ và tên: Lê Thiên Q, sinh năm 1998, tại tỉnh Bình Phước; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký thường trú: Khu phố S, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Họ tên cha: Không rõ; Họ tên mẹ Lê Trần Thiên T, sinh năm: 1981; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình, chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/10/2023 cho đến nay và có mặt tại phiên toà.
2. Họ và tên: Phan Duy H; Sinh năm 1998, tại tỉnh Bình Phước; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký thường trú: Khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Phan Duy H1, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị Á, sinh năm 1975; Bị cáo có ba chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2000, bị cáo là con thứ hai trong gia đình, bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/10/2023 cho đến nay và có mặt tại phiên toà.
3. Họ và tên: Phạm Minh T1; Sinh năm 1999, tại tỉnh Bình Phước; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký thường trú: Khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Phạm Văn M, sinh năm 1970 và bà Lê Thị B, sinh năm: 1971; Bị cáo có bốn anh chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1989, bị cáo là con út trong gia đình, bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/10/2023 cho đến nay và có mặt tại phiên toà.
- Người làm chứng: Ông Khương Quang D, sinh năm 1971; Nơi cư trú: khu phố S, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 9/10/2023, Lê Thiên Q ở nhà thuộc khu phố S, phường T, thành phố Đ thì có Phạm Minh T1, Phan Duy H đến chơi. Lúc này Q rủ H, T1 cùng sử dụng ma túy và thống nhất Q bỏ tiền còn H và T1 liên hệ mua ma túy về sử dụng thì cả ba đồng ý. Q chuyển khoản cho H số tiền 500.000 đồng qua ứng dụng Momo, nhận tiền xong H gọi điện thoại cho một người thanh niên tên C (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 500.000 đồng tiền ma túy đá thì C đồng ý bán, hẹn gặp tại khu vực “Cầu H" thuộc khu phố A, phường T, thành phố Đ để giao dịch mua bán ma túy, đồng thời lúc này H chuyển 500.000 đồng tiền mua ma túy qua ứng dụng momo cho C và kêu T1 sử dụng xe mô tô Exciter, biển số 93P3-025.88 của mình chở H đi đến điểm hẹn, khi T1, H đi đến đoạn QL14 thuộc khu phố A, phường T, thành phố Đ thì gặp C, tại đây C đưa cho T1 01 đoạn ống hút màu trắng, bên trong chứa ma túy đá, H điều khiển xe chở T1 về lại nhà của Q thuộc khu phố S, phường T, thành phố Đ. T1 đưa lại đoạn ống hút chứa ma túy vừa mua được cho Q, Q kêu T1 trích ra một ít ma túy để cả nhóm sử dụng, T1 lấy bọc ma túy trên trích ra một ít bỏ vào trong 01 đoạn ống hút màu đen hàn kín hai đầu để trên giường còn bọc nylon chứa số ma túy còn lại để trên kệ gỗ trong phòng ngủ. Đến khoảng 14 giờ 20 phút cùng ngày khi Q, H và T1 đang chuẩn bị cùng nhau sử dụng ma túy thì lực lượng Công an thành phố Đ đến kiểm tra hành chính phát hiện trên giường ở trong phòng ngủ có 01 đoạn ống nhựa màu đen hàn kín hai đầu, kích thước (3,0 x 1,0)cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và trên kệ có 01 bọc nylon miệng kéo dính, kích thước (4,0 x 3,0)cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng. Tại đây Q, H và T1 khai nhận tinh thể màu trắng bên trong bọc nylon và đoạn ống hút nói trên là ma túy tổng hợp dạng đá của nhóm cất giấu với mục đích để sử dụng. Sau đó lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Q, H và T1 về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy cùng tang vật (93-104; 109-120; 127-138).
Tại Bản kết luận giám định số 1028/KL-KTHS ngày 13/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Tinh thể màu trắng (ký hiệu M) bên trong 01 đoạn ống hút và gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,7755 gam.
Methamphetamine là chất ma túy thuộc các danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Tại Bản Cáo trạng số 24/CT-VKS ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài truy tố các bị cáo Lê Thiên Q, Phan Duy H và Phạm Minh T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Lê Thiên Q, Phan Duy H và Phạm Minh T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Thiên Q mức án từ 18 tháng đến 20 tháng tù.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Phan Duy H mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Minh T1 mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng.
Về vật chứng vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy:
- + 01 bì thư ký hiệu số 1028/2023 ngày 10/10/2023, đựng ma túy còn lại sau giám định được Phòng K Công an tỉnh B niêm phong và đóng dấu giáp lai;
- + 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế gồm: 01 chai nhựa, 01 đoạn ống hút và 01 nỏ thủy tinh bị vỡ một đầu.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước:
- + 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu bạc của Lê Thiên Q.
- + 01 điện thoại di động hiệu iphone, màu trắng của Phan Duy H.
- + 01 xe mô tô hiệu Exciter, biển số 93P3 - 025.88 của Phan Duy H.
Trả lại cho Phạm Minh T1 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh;
Các bị cáo tại phiên tòa đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng số 24/CT-VKS ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
Xét lời khai nhận của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của người chứng kiến; biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng vụ án cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Thấy, phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm và phương thức thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy, ngày 09/10/2023, Lê Thiên Q đã sử dụng số tiền 500.000 đồng nhờ Phan Duy H và Phạm Minh T1 mua ma túy của người thanh niên tên C (không rõ nhân thân, lai lịch) tại đoạn đường QL14 thuộc khu phố A, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước mang về nhà cất giấu trong phòng ngủ thuộc khu phố S, phường T, thành phố Đ với mục đích để sử dụng dần thì bị bắt quả tang, thu giữ 0,7755 gam, loại Methamphetamine. Như vậy, hành vi của bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài đã truy tố.
Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi mà các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và trật tự an ninh tại địa phương, là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng đến lối sống lành mạnh của cộng đồng dân cư, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước trong việc cất giữ, bảo quản và vận chuyển các chất ma túy. Các bị cáo tàng trữ ma túy có khối lượng là 0,7755 gam nên phải chịu tình tiết định khung theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần có mức án đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi và hậu quả từ hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Đây là vụ án đồng phạm nên cần phân tích vai trò của từng bị cáo để cá thể hoá hình phạt.
Đối với bị cáo Lê Thiên Q là người giữ vai trò chính thực hiện hành vi rủ Phan Duy H và Phạm Minh T1 cùng sử dụng ma tuý. Bị cáo Q đã bỏ ra số tiền 500.000 đồng để bị cáo H và T1 đi mua ma tuý về sử dụng cùng nhau nên bị cáo phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo H và bị cáo T1.
Đối với bị cáo Phan Duy H và Phạm Minh T1 là người trực tiếp liên hệ mua 500.000đồng ma tuý của người đàn ông tên C (không rõ nhân thân lai lịch) sau đó cùng nhau đi lấy ma tuý về để cả nhóm sử dụng, xét vai trò của các bị cáo ngang nhau nên cần xử các bị cáo mức án bằng nhau.
[3] Các tình tiết tăng nặng: Không có.
[4] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng.
[6] Đối với người thanh niên tên C bán ma tuý cho Lê Thiên Q, Phan Duy H và Phạm Minh T1. Hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng của vụ án: Cần áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng:
Đối với 01 bì thư ký hiệu số 1028/2023 ngày 10/10/2023, đựng ma túy còn lại sau giám định được Phòng K Công an tỉnh B niêm phong và đóng dấu giáp lai; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế gồm: 01 chai nhựa, 01 đoạn ống hút và 01 nỏ thủy tinh bị vỡ một đầu là số ma tuý còn lại sau giám định và công cụ các bị cáo dùng để sử dụng ma tuý nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu bạc của Lê Thiên Q; 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu trăng của Phan Duy H và 01 xe mô tô hiệu Exciter, biển số 93P3 - 025.88, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Phan Duy H của bị cáo Phan Duy H là công cụ phương tiện các bị cáo sử dụng liên lạc và đi mua ma tuý nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh của Phạm Minh T1 không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng tại phiên tòa bị cáo không yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tại phiên tòa về áp dụng pháp luật và hình phạt đối với bị cáo H và T1 là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo Q là nhẹ nên cần xử bị cáo Q mức án cao hơn theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
[9] Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Lê Thiên Q, Phan Duy H và Phạm Minh T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”,
2. Về điều luật và mức hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 50; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự,
Xử phạt bị cáo Lê Thiên Q 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/10/2023.
Xử phạt bị cáo Phan Duy H 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/10/2023.
Xử phạt bị cáo Phạm Minh T1 01(Một) năm 06(Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/10/2023.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
3. Về vật chứng vụ án:
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư ký hiệu số 1028/2023 ngày 10/10/2023, đựng ma túy còn lại sau giám định được Phòng K Công an tỉnh B niêm phong và đóng dấu giáp lai; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế gồm: 01 chai nhựa, 01 đoạn ống hút và 01 nỏ thủy tinh bị vỡ một đầu.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung; 01 điện thoại di động hiệu hiệu Iphone; 01 điện thoại di động hiệu hiệu Vivo và 01 xe mô tô hiệu Exciter, biển số 93P3 - 025.88 kèm theo 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Phan Duy H..
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0002215, quyển số 0045, ký hiệu D47/2017 ngày 26/01/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước).
4. Về án phí sơ thẩm:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Án phí hình sự sơ thẩm các bị cáo Lê Thiên Q, Phan Duy H và Phạm Minh T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
5. Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đức Hùng |
Bản án số 57/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 57/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
