Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2024/HS-ST

Ngày 22 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Huy Biên.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Thiện.

2. Ông Nguyễn Lâm Giang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đồng Khánh Ly, Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên toà: Ông Vi Văn Cảnh, Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 54/2024/TLST- HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 176/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1976 tại huyện T, tỉnh Bắc Giang; nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1936 và bà Nguyễn Thị N, đã chết; vợ: Nguyễn Thu H1, sinh năm 1976 và có 02 con; tiền án: Không có; tiền sự: Ngày 13/6/2023, bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 6.500.000 đồng về hành vi “Xâm hại sức khỏe của người khác” nộp phạt ngày 16/6/2023; nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số: 26/1997/HS-ST ngày 01/10/1997 của bị Tòa án nhân dân huyện Tân Yên xử phạt 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân”. Bản án hình sự phúc thẩm số: 89/1999/HSPT ngày 28/9/1999 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 14 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa” và 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”, buộc chấp hành chung cả hai bản án là 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/01/1999. Bản án hình sự sơ thẩm số: 22/2002/HS-ST ngày 31/7/2002 của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 18/5/2002. Ngày 16/11/2020, bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Xâm hại sức khỏe của người khác”. Chưa nộp phạt, đến nay đã hết thời hiệu thi hành. Ngày 02/3/2022, bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Xâm hại sức khỏe của người khác”, đã nộp phạt ngày 09/3/2022. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/02/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Văn T1, sinh năm 1983 tại huyện T, tỉnh Bắc Giang; nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B, đã chết và bà Trần Thị X, sinh năm 1953; vợ: Phạm Thị L, sinh năm 1992 (đã ly hôn) và có 01 con; tiền án: Không có; tiền sự: Ngày 16/8/2022, bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 6.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích”, chưa nộp phạt. Ngày 01/3/2023 bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, đã nộp phạt ngày 23/5/2023; nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số: 75/2003/HS-ST ngày 29/7/2003 của Tòa án nhân dân quận 5, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bản án hình sự phúc thẩm số: 126/2019/HSPT ngày 30/9/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử 30 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm ngày 16/01/2020, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/01/2022. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/02/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

  • + Ông Dương Văn Y, sinh năm 1965, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • + Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1969, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Dương Văn P, sinh năm 1992; địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • + Bà Trần Thị X, sinh năm 1953; địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang, có mặt.
  • + Bà Nguyễn Thu H1, sinh năm 1976; địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang, có mặt.

- Người làm chứng: Chị Thân Thị V, sinh năm 1988, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Ngày 24/01/2015, Nguyễn Mạnh H cho anh Dương Văn P vay số tiền 6.000.000 đồng lãi suất 0,1%/tháng, anh P hẹn trả tiền trong thời gian một tháng, sau đó H đòi nhiều lần nhưng anh P khất chưa có tiền trả. Đến giáp tết nguyên đán năm 2024, H xuống nhà anh P gặp ông Dương Văn Y, bà Nguyễn Thị T2 và chị Thân Thị V (là bố, mẹ đẻ và vợ anh P) ở nhà. Khi gặp vợ chồng ông Y, bà T2 và chị V, H nói việc anh P đang nợ số tiền 6.000.000 đồng, đồng thời dặn ông Y, bà T2 nhắn anh P trả nợ cho H. Khoảng 02 ngày sau, anh P gọi điện cho H xin khất đến ngày hội làng Cao Thượng ngày 20/02/2024 (dương lịch) anh P lấy tiền chơi hội phường sẽ trả tiền cho H. Khoảng 11 giờ ngày 20/02/2024, H rủ Nguyễn Văn T1 đến nhà anh P để đòi tiền nhưng gia đình anh P không có ai ở nhà, H và T1 đi về. Khoảng 20 giờ ngày 20/02/2024, sau khi ăn cơm, uống rượu xong, H gọi điện cho T1 bảo “Mày đèo anh xuống nhà thằng P anh đòi tiền, nó hứa hôm nay lấy hội trả anh”, lúc này T1 đang ở nhà, nghe H nói vậy thì T1 đồng ý. Sau khi gọi điện thoại xong, H lấy 01 thanh kiếm chuôi bằng gỗ sơn màu vàng, lưỡi kiếm bằng kim loại, lưỡi sắc, đầu nhọn, màu trắng bạc mang theo mục đích để đe dọa, ép buộc anh P phải trả tiền. Khoảng 20 giờ 20 phút, T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đỏ - đen, biển kiểm soát 88H8-8190 đến đón H. Khi đến nhà anh P, lúc này khoảng 20 giờ 30 phút, thấy cổng nhà không khoá, H cầm kiếm cùng T1 đi vào sân, H liên lục chửi bới thì ông Y đang ở trong nhà ra mở cửa bảo với H và T1 là anh P không có nhà, H giơ kiếm chĩa về phía ngực ông Y, chửi và nói “hôm nay chúng mày phải trả tiền cho tao”, ông Y dùng tay trái gạt ra thì bị xây sát chảy máu ở kẽ ngón thứ năm bàn tay trái. H dùng tay đẩy ông Y vào trong nhà, T1 đi theo sau, lúc này bà T2 và chị V từ phòng ngủ đi ra, H chĩa mũi kiếm về phía bà T2 de doạ “hai mạng chúng mày bố đổi được” đồng thời liên tục chửi bới, giơ kiếm doạ chém ông Y thì ông Y ngồi xuống ghế uống nước, bà T2 sợ hãi liên tục xin nhưng H không dừng lại mà tiếp tục chửi bới, H lao tới vị trí ông Y đang ngồi, tay phải cầm kiếm kề vào cổ, tay trái túm tóc giật mạnh ra phía sau thành ghế ngồi, khiến ông Y sợ không phản kháng được, còn T1 liên tục nói với vợ chồng ông Y, bà T2 về việc anh P vay tiền hẹn trả nhưng không trả. Sau đó H bỏ Kiếm khỏi cổ ông Y và chĩa mũi kiếm về phía mặt ông Y đe dọa và chửi “mày thích gấu không, bố mày phang mày luôn, có thích gấu không, mày thử nói câu gấu bố phang cụt đầu mày luôn, gấu đi”. Sợ H sẽ chém cả nhà, bà T2 xin trả tiền cho H thì T1 lấy thanh kiếm trên tay H mang ra ngoài sân, chị V ra theo, xin T1 và nói “thôi các anh cứ từ từ để nói chuyện đã”, T1 nói “Đ.mẹ mày có im đi không bố mày xiên cho mày phát giờ”, thấy T1 nói vậy, chị V sợ hãi nên đi vào nhà, sau đó T1 để kiếm ở xe và đi vào nhà. Ở trong nhà bà T2 liên tục nói xin lỗi nhưng H vẫn tiếp tục chửi đe dọa ông Y “riêng anh Đ.mẹ em dám cầm dao phang vào mặt anh luôn này”, “bây giờ anh phải trả luôn”, “anh chống em, Đ.mẹ mai em xiên bằng chết luôn”. Do sợ H chém cả nhà nên bà T2 bảo ông Y vào nhà lấy tiền ra trả cho H, ông Y vào trong nhà lấy tiền ra thì H bảo T1 đếm, ông Y đưa tiền cho T1, T1 đếm đủ 6.000.000 đồng xong thì nói với H “Đủ anh ạ”, H và T1 ngồi nói chuyện một lúc thì ra khỏi nhà ông Y, sau đó H và T1 đi về hội Đình Cao T3 ngồi uống bia xong về quán nhà anh Phạm Ngọc V1 ăn đêm. Tại đây, H nói với T1 “Mày đưa anh bốn triệu còn anh cho mày hai triệu”, T1 đưa cho H 4.000.000 đồng, còn T1 cầm 2.000.000 đồng sau đó cả hai đi về.

2. Ngày 21/02/2024, ông Dương Văn Y đã làm đơn trình báo Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T về việc H và T1 đến nhà ông Y đe dọa bắt ép ông Y trả tiền, đồng thời ông Y giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 thẻ nhớ lưu giữ nhiều file video, trong đó có file video Camera của gia đình ông Y ghi lại diễn biến vụ việc vào buổi tối ngày 20/02/2024.

Ngày 21/02/2024, Cơ quan điều tra tiến hành cho ông Dương Văn Y và bà Nguyễn Thị T2 nhận dạng H và T1 qua ảnh. Kết quả, ông Y và bà T2 đã nhận ra Nguyễn Mạnh H và Nguyễn Văn T1 là những đối tượng đã đến nhà của gia đình ông Y vào buổi tối ngày 20/02/2024 sau đó đe dọa, ép buộc gia đình ông Y đưa 6.000.000 đồng. Ngày 22/02/2024, Cơ quan điều tra tiến hành cho Nguyễn Mạnh H và Nguyễn Văn T1 quan sát file video hình ảnh lưu giữ trong thẻ nhớ Camera do ông Y giao nộp. Kết quả, H và T1 nhận và xác định hình ảnh trong file video chính là H và T1 đến nhà ông Y chửi bới cầm kiếm kề vào cổ đe dọa ông Y ép buộc gia đình ông Y trả tiền thay cho anh P buổi tối ngày 20/02/2024. Cơ quan điều tra tiến hành cho Nguyễn Mạnh H quan sát chiếc kiếm thu giữ, H xác định đó là chiếc kiếm mà H đã sử dụng để đe dọa vợ chồng ông Y, bà T2 trả tiền vào ngày 20/02/2024.

3. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định video trong dữ liệu camera an ninh do ông Y giao nộp. Tại Kết luận giám định số: 622/KL-KTHS ngày 22/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 file video được lưu giữ trong thẻ nhớ Micro SD, nhãn hiệu DSS, màu xanh, trắng, đen gửi giám định. Trích xuất được 28 hình ảnh thể hiện diễn biến sự việc có trong các file video gửi giám định.

4. Bản cáo trạng số: 51/CT-VKS ngày 16/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh H và bị cáo Nguyễn Văn T1 về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự.

5. Tại phiên tòa:

- Kiểm sát viên phát biểu luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm d khoản 2 và khoản 5 Điều 168, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H từ 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng đến 07 (bẩy) năm 08 (tám) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 21/02/2024.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 từ 07 (bẩy) năm 02 (hai) tháng đến 07 (bẩy) năm 04 (bốn) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 21/02/2024.

- Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét.

- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 và điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • + Trả bị cáo Nguyễn Mạnh H và bà Nguyễn Thu H1 số tiền 9.000.000 đồng, trả bị cáo H số tiền 980.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án, trả bị cáo H 01 áo phông màu đen; 01 quần bò màu xanh.
  • + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone8 Plus màu vàng có số Imei 356116096871912 của Nguyễn Mạnh H, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh rêu số Imei 1: 862280057268596; số Imei 2: 862280057268588 của Nguyễn Văn T1.
  • + Tịch thu 01 thanh kiếm chuôi bằng gỗ hình trụ dài 22,5cm sơn màu vàng, hai đầu bọc kim loại màu vàng đồng, lưỡi kiếm bằng kim loại dài 63,5cm, một lưỡi sắc, đầu nhọn, màu trắng bạc, bản rộng nhất 4,3cm được đựng trong vỏ gỗ sơn màu vàng dài 71,5cm; 02 sim điện thoại, sim số 0987.860.xxx và sim số 0966.111.804 để tiêu hủy.

- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Mạnh H và bị cáo Nguyễn Văn T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

- Bị cáo Nguyễn Mạnh H và bị cáo Nguyễn Văn T1 đều trình bày: Các bị cáo thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố các bị cáo về tội “Cướp tài sản” là đúng người, đúng tội; các bị cáo đã khắc phục hậu quả và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử kết luận hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đúng quy định và hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa bị hại vợ chồng ông Dương Văn Y, bà Nguyễn Thị T2, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Dương Văn P đều có đơn xin xét xử vắng mặt, nhân chứng chị Thân Thị V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Xét thấy họ có đầy đủ lời khai trong hồ sơ, việc vắng mặt của những người trên không làm ảnh hưởng tới sự thật khách quan của vụ án, tài sản bị chiếm đoạt bị hại đã được nhận lại, do vậy không làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của họ, căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

[3] Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Mạnh H và bị cáo Nguyễn Văn T1 thành khẩn khai báo, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 35 phút ngày 20/02/2024, tại gia đình ông Dương Văn Y, địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang, bị cáo Nguyễn Mạnh H đã có hành vi dùng vũ lực tay phải cầm kiếm chuôi bằng gỗ, sơn màu vàng hai đầu bọc kim loại màu vàng đồng dài khoảng 22,5cm, lưỡi kiếm bằng kim loại dài 63,5cm, lưỡi sắc, đầu nhọn kề vào cổ, tay trái túm tóc ông Y đồng thời có lời nói đe doạ buộc ông Dương Văn Y và bà Nguyễn Thị T2 phải đưa số tiền 6.000.000 đồng cho bị cáo Nguyễn Văn T1. Bị cáo Nguyễn Văn T1 tiếp nhận ý trí của bị cáo H về việc đi đòi tiền anh P, có lời lẽ đe doạ và trực tiếp đếm nhận tiền từ ông Y đưa cho. Hành vi trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo H đã dùng vũ lực và đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc đến người bị hại, buộc bị hại phải đưa tài sản, các bị cáo xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp; Bị cáo H dùng cây kiếm bằng kim loại là tình tiết định khung hình phạt “dùng vũ khí nguy hiểm” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự, hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản”. Căn cứ vào hành vi và mục đích phạm tội, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh H, bị cáo Nguyễn Văn T1 về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật phù hợp với diễn biến hành vi phạm tội, lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ.

[4] Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Mạnh H, bị cáo Nguyễn Văn T1 đều không có tiền án, nhưng các bị cáo đều là đối tượng có tiền sự và nhân thân xấu.

Bị cáo Nguyễn Mạnh H có 01 tiền sự ngày 13/6/2023 bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính 6.500.000 đồng về hành vi “Xâm hại sức người khác”. Về nhân thân năm 1997 đã bị Toà án nhân dân huyện Tân Yên xử phạt 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân”; năm 1999 bị Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa” và tội “Trộm cắp tài sản công dân”; năm 2002 bị Toà án nhân dân huyện Tân Yên xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 16/11/2020 bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi “Xâm hại sức người khác”; ngày 02/3/2022 bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi “Xâm hại sức người khác”.

Bị cáo Nguyễn Văn T1 có 02 tiền sự: Ngày 16/8/2022 bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính 6.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích”; ngày 01/3/2023 bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”. Về nhân thân năm 2003 đã bị Toà án nhân dân Quận 5, thành phố Hồ chí Minh xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 30/9/2019 bị Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm xử phạt 30 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Về tiền sự, bị cáo H có tiền sự về hành vi Xâm hại sức khoẻ người khác, bị cáo T1 có tiền sự về hành vi Cố ý gây thương tích và hành vi đánh bạc. Về nhân thân, bị cáo H 03 lần bị Toà án xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, 02 lần bị Công an huyện T xử phạt hành chính về hành vi “Xâm hại sức người khác”; bị cáo T1 01 lần bị Toà án xét xử về tội “Cố ý gây thương tích”, 01 lần bị Toà án xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”. Chứng tỏ các bị cáo là đối tượng lười lao động, thích hưởng thụ, rất coi thường kỷ cương pháp luật của Nhà nước. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, quá trình khai báo luôn tỏ ra thành khẩn và ăn năn hối cải, tài sản chiếm đoạt được đã bồi thường cho người bị hại và đều được bị hại có đơn đề nghị xem xét miễn giảm trách nhiệm hình sự, bị cáo H có bố mẹ đẻ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất, hạnh nhì nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xét thấy cần phải xử phạt các bị cáo cách ly ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo là đúng với tính chất, mức độ phạm tội. Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt giành cho các bị cáo theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra.

[5] Theo quy định tại khoản 6 Điều 168 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính các bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng. Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên Hội đồng xét xử miễn phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Đối với vết thương ở tay trái ông Y bị bật da, sưng nề kích thước (2x1)cm tại kẽ ngón V bàn tay trái, ông Y không có yêu cầu đề nghị xử lý về hành vi bị cáo H gây thương tích, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích, đồng thời ra Quyết định dẫn giải nhưng ông Y kiên quyết từ chối giám định, do đó Cơ quan điều tra không xác định tỷ lệ tổn thương do bị cáo H gây ra, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xem xét xử lý.

Đối với 27 giấy biên nhận vay tiền tạm giữ khi khám xét khẩn cấp thể hiện vợ chồng bị cáo H cho Giáp Thành T4 vay 20.000.000 đồng, Vũ Đình P1 vay 5.000.000 đồng, Trần Văn T5 vay 65.000.000 đồng, Nguyễn Văn T6 vay 25.000.000 đồng, Bùi Huy H2 vay 9.000.000 đồng, Nguyễn Thị Kim T7 vay 64.000.000 đồng, Dương Văn P vay 6.000.000 đồng. Quá trình điều tra xác định do có mối quan hệ quen biết nên bị cáo Nguyễn Mạnh H và bà Nguyễn Thu H1 là vợ bị cáo H đã cho những người trên vay tiền, không thế chấp tài sản, mức lãi xuất không vượt quá lãi xuất pháp luật quy định. Do đó, hành vi cho vay của bị cáo H và bà H1 không cấu thành tội “cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trả lại 27 giấy vay tiền trên cho bà Nguyễn Thu H1 là đúng quy định.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 88H8-8190, đăng ký xe là Bùi Thị Thanh N1, sinh năm 1979, trú quán tổ D, phường H, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, bà Trần Thị X là người mua lại chiếc xe trên. Cơ quan điều tra tiến hành làm việc với bà N1 thì bà N1 xác định đã bán chiếc xe trên cho một người ở Bắc Giang, khi bán không viết giấy tờ. Kết quả tra cứu chiếc xe này không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Ngày 20/2/2024, bị cáo T1 mượn bà Trần Thị X để đi đón con, bà X không biết bị cáo đã sử dụng chiếc xe mô tô chở bị cáo H đi cướp tài sản nên bà X không vi phạm pháp luật, ngày 26/3/2024 Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho bà Trần Thị X là đúng quy định.

Đối với con dao có chiều dài 22cm là tài sản của gia đình bị Nguyễn Mạnh H, không sử dụng vào việc phạm tội nên ngày 18/6/2024 Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại con dao cho bà H1 là có căn cứ.

Đối với số tiền 9.000.000 đồng thu giữ trong két sắt, trong đó có 3.000.000 đồng là tiền bị cáo H chiếm đoạt của vợ chồng ông Y, số tiền 980.000 đồng tạm giữ là tài sản bị cáo chiếm đoạt của vợ chồng ông Y, số tiền bị cáo chiếm đoạt của vợ chồng ông Y đã được bà H1 là vợ bị cáo bồi thường. Do vậy toàn bộ số tiền 9.980.000 đồng là tài sản chung của vợ chồng H, nay cần trả lại cho vợ chồng bị cáo số tiền trên, tại phiên toà vợ bị cáo xác định đây là tài sản chung, bị cáo cũng có quyền định đoạt, nếu cần tạm giữ để đảm bảo cho bị cáo trong việc thi hành án thì bà H1 cũng nhất trí.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Mạnh H tác động vợ là bà Nguyễn Thu H1 bồi thường cho vợ chồng ông Y, bà T2 số tiền 4.000.000 đồng; bị cáo Nguyễn Văn T1 tác động mẹ là bà Trần Thị X bồi thường cho vợ chồng ông Y, bà T2 số tiền 2.000.000 đồng. Đến nay ông Y, bà T2 không yêu cầu gì về việc bồi thường thiệt hại và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho H và T1, bà H1 và bà X không yêu cầu bị cáo H và bị cáo T1 phải trả lại số tiền bồi thường cho người bị hại nên không đặt ra xem xét giải quyết về trách nhiệm dân sự.

[8] Về vật chứng vụ án:

  • - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone8 Plus màu vàng có số Imei 356116096871912 của bị cáo Nguyễn Mạnh H, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh rêu số Imei 1: 862280057268596; số Imei 2: 862280057268588 của bị cáo Nguyễn Văn T1, bị cáo H và bị cáo T1 đều xác định các bị cáo dùng để liên lạc với nhau đi đòi nợ tiền, do vậy cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
  • - 01 thanh kiếm chuôi bằng gỗ dài 22,5cm sơn màu vàng, hai đầu bọc kim loại màu vàng đồng, lưỡi kiếm bằng kim loại dài 63,5cm, một lưỡi sắc, đầu nhọn, màu trắng bạc, bản rộng nhất 4,3cm, được đựng trong vỏ gỗ sơn màu vàng dài 71,5cm của bị cáo Nguyễn Mạnh H sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu tiêu huỷ.
  • - 01 chiếc áo phông màu đen và 01 quần bò màu xanh là quần áo của bị cáo Nguyễn Mạnh H mặc khi đến nhà ông Y cướp tài sản, tại phiên toà bị cáo đề nghị được nhận lại do vậy cần trả lại bị cáo chiếc áo phông và quần bò trên.
  • - 02 sim điện thoại, sim số 0987.860.xxx và sim số 0966.111.804 của bị cáo Nguyễn Văn T1 là số điện thoại bị cáo dùng liên lạc với bị cáo Nguyễn Mạnh H, do vậy cần tịch thu tiêu huỷ.

[9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Mạnh H, bị cáo Nguyễn Văn T1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 án đồng phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về điều luật áp dụng: Căn điểm d khoản 2 Điều 168, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58, điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 và điểm a, b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án

2. Về hình phạt:

2.1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H 07 (bẩy) năm 08 (tám) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 21/02/2024.

2.2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 07 (bẩy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 21/02/2024.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Nguyễn Mạnh H và bị cáo Nguyễn Văn T1.

3. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét.

4. Về vật chứng vụ án:

  • + Trả bị cáo Nguyễn Mạnh H và bà Nguyễn Thu H1 số tiền 9.000.000 đồng, trả bị cáo Nguyễn Mạnh H số tiền 980.000 đồng nhưng tạm giữ số tiền trên để đảm bảo thi hành án, trả bị cáo Nguyễn Mạnh H 01 áo phông màu đen, 01 quần bò màu xanh.
  • + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone8 Plus màu vàng có số Imei 356116096871912, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh rêu số Imei 1: 862280057268596; số Imei 2: 862280057268588.
  • + Tịch thu 01 thanh kiếm chuôi bằng gỗ hình trụ dài 22,5cm sơn màu vàng, hai đầu bọc kim loại màu vàng đồng, lưỡi kiếm bằng kim loại dài 63,5cm, một lưỡi sắc, đầu nhọn, màu trắng bạc, bản rộng nhất 4,3cm được đựng trong vỏ gỗ sơn màu vàng dài 71,5cm; 02 sim điện thoại, sim số 0987.860.xxx và sim số 0966.111.804 để tiêu hủy.

Vật chứng của vụ án như trong Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Yên.

3- Về án phí:

Bị cáo Nguyễn Mạnh H, bị cáo Nguyễn Văn T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có 15 ngày kháng cáo kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có 15 ngày kháng cáo kể từ ngày nhận được (hoặc kể từ ngày niêm yết) bản án xét xử vắng mặt.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh BG;
  • - VKSND huyện Tân Yên;
  • - TAND tỉnh BG;
  • - CQCSĐT - Công an huyện Tân Yên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BG;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Yên;
  • - UBND thị trấn Cao Thượng;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Huy Biên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/HS-ST ngày 22/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG về hình sự (cướp tài sản)

  • Số bản án: 57/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cướp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ngày 20/02/2024, tại gia đình ông Dương Văn Y, địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang, bị cáo Nguyễn Mạnh H đã có hành vi dùng vũ lực tay phải cầm kiếm chuôi bằng gỗ, sơn màu vàng hai đầu bọc kim loại màu vàng đồng dài khoảng 22,5cm, lưỡi kiếm bằng kim loại dài 63,5cm, lưỡi sắc, đầu nhọn kề vào cổ, tay trái túm tóc ông Y đồng thời có lời nói đe doạ buộc ông Dương Văn Y và bà Nguyễn Thị T2 phải đưa số tiền 6.000.000 đồng cho bị cáo Nguyễn Văn T1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger