|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 57/2024/HNGĐ-ST Ngày: 22/7/2024 V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tính.
Hội Thẩm nhân dân: Ông Trần Minh Phương.
Ông Mai Văn Duẩn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thanh Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 77/2024/TLST-HNGĐ ngày 25/4/2024 về “Tranh chấp hôn nhân gia đình”.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/6/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Đỗ Viết C, sinh năm 1983; vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1984; hiện trú tại: Đài Loan; vắng mặt.
Cùng HKTT: Thôn Y, xã N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn là anh Đỗ Viết C trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Bắc Ninh cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2005. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chung sống hạnh phúc, có phát sinh mâu thuẫn nhưng không đáng kể. Năm 2019, chị H đã sang Nhật Bản để sinh sống và làm việc theo diện xuất khẩu lao động. Quá trình chị H lao động tại Nhật Bản, vợ chồng anh phát sinh mâu thuẫn, chị H không liên lạc về với gia đình, không quan tâm đến chồng con. Khoảng tháng 5/2023, chị H trở lại Việt Nam. Khi chị H về Việt Nam, vợ chồng anh nảy sinh mâu thuẫn trầm trọng. Mặc dù, anh chị đã nhiều lần nói chuyện để hàn gắn, được hai bên gia đình động viên, khuyên bảo nhưng không có kết quả, mâu thuẫn không được giải quyết. Khoảng tháng 8/2023, chị H bỏ nhà đi và cắt đứt mọi liên lạc với anh và các con. Sau này, anh được biết chị H đã đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Nhận thấy mâu thuẫn đã rất trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên anh C đề nghị Tòa án cho anh được ly hôn với chị H.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân anh và chị H có 03 người con chung là cháu Đỗ Phương T, sinh ngày 02/4/2006; cháu Đỗ Phương T1, sinh 29/01/2008 và cháu Đỗ Quang T2, sinh ngày 24/10/2010. Hiện nay, cả 03 cháu đang ở với anh. Đối với cháu T đã đủ 18 tuổi, còn đối với cháu T1 và cháu T2, anh đề nghị Tòa án giao 02 cháu cho anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Vợ chồng anh không có tài sản chung, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về nợ chung và các nghĩa vụ tài chính khác: Anh và chị H không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí ly hôn và các chi phí tố tụng khác: Anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Bị đơn là chị Nguyễn Thị H hiện đang sinh sống và lao động tại Đài Loan nên Hội đồng xét xử không tiến hành hòa giải được. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành làm việc với ông Nguyễn Văn C1 là bố đẻ của chị H thì ông trình bày như sau: Chị Nguyễn Thị H đã biết anh C đang làm thủ tục xin ly hôn với chị tại Tòa án và chị H có truyền đạt quan điểm đồng ý ly hôn với anh C.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án là đảm bảo đúng theo trình tự, thủ tục tố tụng. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 28, 35, 37, 38, 147, 227, 271, 273 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH, xử cho anh Đỗ Viết C được ly hôn chị Nguyễn Thị H. Về con chung: Giao con chung là cháu Đỗ Phương T1, sinh ngày 29/01/2008 và cháu Đỗ Quang T2, sinh ngày 24/10/2010 cho anh C trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con không đặt ra giải quyết.
Tài sản và công nợ: Không có, không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Anh Đỗ Viết C phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn xin ly hôn đề ngày 13/12/2023, anh Đỗ Viết C đề nghị Tòa án xem xét cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị H. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hôn nhân gia đình”.
Về thẩm quyền giải quyết: Theo đơn xin ly hôn của anh Đỗ Viết C, chị Nguyễn Thị H có hộ khẩu thường trú tại thôn Y, xã N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; tại thời điểm thụ lý vụ án chị H đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan. Tòa án đã tiến hành xác minh thông tin về thời gian xuất nhập cảnh của chị H tại Cục Q - Bộ C2 được biết, chị Nguyễn Thị H đã xuất cảnh lần gần nhất là ngày 06/12/2023 qua Cửa khẩu sân bay quốc tế N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh trở lại Việt Nam. Căn cứ khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
Về việc tham gia tố tụng của các đương sự: Do chị Nguyễn Thị H đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan nên Tòa án đã tiến hành làm việc với ông Nguyễn Văn C1 là bố đẻ của chị H về việc cung cấp địa chỉ cụ thể của chị H tại Đài Loan nhưng ông C1 không cung cấp được cho Tòa án. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị H thông qua ông C1 và ông C1 cam kết thông báo lại cho chị H nội dung các văn bản tố tụng. Chị H biết việc anh C khởi kiện xin ly hôn tại Tòa án và chị cũng nhất trí ly hôn với anh C. Do vậy, cần xác định bị đơn cố tình giấu địa chỉ. Tòa án cũng đã tiến hành tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập cho anh C nhưng anh C có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Đỗ Viết C và chị Nguyễn Thị H kết hôn ngày 25/01/2005, tại thời điểm kết hôn anh C và chị H đều đủ tuổi, đủ năng lực, đủ điều kiện kết hôn theo luật định và được UBND xã N, huyện T (nay là thị xã T), tỉnh Bắc Ninh cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Do đó, mối quan hệ hôn nhân giữa anh C và chị H là hợp pháp.
Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc và có 03 người con chung là cháu Đỗ Phương T; cháu Đỗ Phương T1 và cháu Đỗ Quang T2. Khoảng tháng 8/2023, chị H bỏ nhà đi và cắt đứt mọi liên lạc với anh C và các con. Trong khoảng thời gian hai vợ chồng xa cách, anh chị đã có mâu thuẫn, giữa hai vợ chồng không gặp được nhau, không có tiếng nói chung và sống ly thân, không liên lạc gì với nhau, không quan tâm đến cuộc sống của nhau.
Do không lấy được lời khai của chị H, nhưng căn cứ vào lời trình bày của các cháu T1, cháu T2 thì thấy các cháu đều trình bày từ trước Tết âm lịch năm 2024 đến nay, mẹ các cháu là chị H không có liên lạc gì với 03 chị em cháu. Đồng thời, ông C1 là bố đẻ của chị H cũng trình bày, sau khi chị H đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản về Việt Nam khoảng đầu năm 2023 thì vợ chồng anh C, chị H bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, anh C có hành vi đánh đuổi nên chị H phải bỏ ra ngoài thuê nhà ở; sau đó một thời gian, chị H có liên lạc về với ông và nói đã sang Đài Loan để xuất khẩu lao động đến nay; chị H biết việc anh C khởi kiện xin ly hôn tại Tòa án và chị cũng nhất trí ly hôn với anh C.
Hội đồng xét xử nhận thấy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng anh C, chị H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của anh C là có căn cứ, đủ điều kiện ly hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh C, xử cho anh Đỗ Viết C được ly hôn chị Nguyễn Thị H.
[2.2]. Về con chung: Vợ chồng anh C, chị H có 03 người con chung là cháu Đỗ Phương T, sinh ngày 02/4/2006; cháu Đỗ Phương T1, sinh ngày 29/01/2008 và cháu Đỗ Quang T2, sinh ngày 24/10/2010. Từ năm 2019 chị H đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản đến nay, các cháu luôn sinh sống cùng anh C nên anh đề nghị Tòa án giao các cháu cho anh nuôi dưỡng. Như vậy, cháu T đã đủ 18 tuổi, còn đối với cháu T1 và cháu T2, các cháu có nguyện vọng được tiếp tục ở cùng bố nên cần giao cháu T1 và cháu T2 cho anh C tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Do anh C không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3]. Về tài sản chung, công nợ chung: Vợ chồng anh C, chị H không có tài sản chung, không có công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3]. Về án phí: Anh Đỗ Viết C phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 37, 38, 147, 227, 228, 271, 273, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Đỗ Viết C.
- Anh Đỗ Viết C được ly hôn chị Nguyễn Thị H.
- Giao cháu Đỗ Phương T1, sinh ngày 29/01/2008 và cháu Đỗ Quang T2, sinh ngày 24/10/2010 cho anh Đỗ Viết C chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị Nguyễn Thị H được quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Anh Đỗ Viết C phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận anh C đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng số 0003213 ngày 18/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật; bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Tính |
Bản án số 57/2024/HNGĐ-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 57/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
