TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 57/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 22/7/2024
V/v tranh chấp ly hôn
chia tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Thanh Quyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Giang
Ông Lê Văn Qui
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ tham gia phiên tòa:
Ông Đỗ Thành Nghiên – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 17 tháng 7 năm 2024 và ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 23/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, chia tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Võ Hồng Q, sinh năm: 1989; Địa chỉ: ấp N, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của ông Võ Hồng Q (liên quan đến yêu cầu về tài sản): Ông Ngô Trung H, sinh năm: 1991; Địa chỉ: ấp G, xã T, thị xã G, tỉnh Tiền Giang (Văn bản ủy quyền ngày 20/02/2024) (có mặt).
- Bị đơn: Bà Phan Thị T, sinh năm: 1983; Địa chỉ: ấp B, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (có mặt).
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nguyễn Văn T1, Văn phòng L, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh H; Địa chỉ: khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Hồ Văn B (tên gọi khác: T2), sinh năm: 1989; Địa chỉ: ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
- Bà Cao Tú A, sinh năm: 1987; Địa chỉ: ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm: 1962; Địa chỉ: ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
- Bà Hồ Thanh H2, sinh năm: 1983; Địa chỉ: khu V, phường V, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Võ Hồng Q trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Q và bà T tự nguyện sống chung khoảng năm 2022 nhưng không có đăng ký kết hôn.
Nguyên nhân mâu thuẫn: Trong thời gian chung sống, ông Q và bà T bất đồng quan điểm, không có sự chia sẻ lẫn nhau, ảnh hưởng đến cuộc sống hằng ngày của gia đình. Các bên đã không còn sống chung từ khoảng tháng 12/2023 cho đến nay. Nhận thấy, đời sống chung không thể hòa hợp và duy trì được nữa nên ông Q yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với bà T.
Về con chung, nợ chung: Không có.
Về tài sản: Quá trình sống chung, ông Q và bà T có tạo lập khối tài sản chung là thửa đất 1131, tờ bản đồ số 4, diện tích 134,9m², trong đó có 75m² đất ở và 59,9m² đất trồng cây lâu năm tọa lạc tại ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh S cấp ngày 09/6/2023 cho bà Phan Thị T, giá nhận chuyển nhượng là 250.000.000 đồng, trong đó ông Q góp 200.000.000 đồng, bà T góp 50.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án ông Q yêu cầu phân chia tài sản, nhận số tiền 200.000.000 đồng đã góp, tại phiên tòa sơ thẩm đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu, chỉ yêu cầu nhận số tiền 180.000.000 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Phan Thị T trình bày: Bà T thống nhất về quan hệ hôn nhân của bà T và ông Q không có đăng ký kết hôn, sống chung vào khoảng tháng 12/2022, không có con chung, nợ chung.
Về tài sản: Quá trình sống chung giữa ông Q và bà T không có tài sản chung, quyền sử dụng đất tại thửa đất 1131 là tài sản riêng của bà T, ông Q không có góp tiền nhận chuyển nhượng đất, số tiền 250.000.000 đồng là tiền của bà T. Các tin nhắn được thể hiện trong vi bằng do nguyên đơn cung cấp là do nguyên đơn mượn điện thoại của bị đơn, sau đó tự nhắn qua lại từ tài khoản Zalo của nguyên đơn vào tài khoản Zalo của bị đơn. Bị đơn cũng thống nhất tài khoản “Lan Thanh” là của bị đơn Phan Thị T, “Quân V” là của nguyên đơn Võ Hồng Q.
Quá trình giải quyết vụ án, ông Hồ Văn B và bà Cao Tú A cùng trình bày: Biên nhận ngày 17/4/2023 là do ông B viết và ký tên nhận tiền. Việc giao dịch chuyển nhượng đất ông B, bà Tú A chỉ trực tiếp giao dịch với bà T, không có giao dịch với ông Q, các bên thỏa thuận giá chuyển nhượng đất là 250.000.000 đồng, đặt cọc trước 30.000.000 đồng (không nhớ ngày đặt cọc), sau đó đến ngày 17/4/2023 nhận thêm 220.000.000 đồng. Giao dịch chuyển nhượng đã thực hiện xong nên ông B, bà Tú A không có ý kiến, yêu cầu gì trong vụ án này, đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt trong suốt thời gian giải quyết vụ án.
Quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Trung H3 trình bày: Hiện nay trên phần đất chuyển nhượng có một phần nhà vệ sinh do ông H3 xây dựng. Ông H3 và bà T thống nhất nhà vệ sinh có trước khi bà T nhận chuyển nhượng đất. Ông H3 và bà T thống nhất một phần nhà vệ sinh có diện tích 1,8m² để cho ông H3 tiếp tục sử dụng, khi nào bà T có nhu cầu sử dụng đất thì ông H3 sẽ tự tháo dỡ, di dời phần nhà vệ sinh trên phần đất. Ông H3 đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt trong suốt thời gian giải quyết vụ án.
Quá trình giải quyết vụ án, bà Hồ Thanh H2 trình bày: Số điện thoại “704889186” do bà H2 đứng tên chủ thuê bao, loại trả sau. Do quen biết, mẹ ruột bà T được bà H2 nhận là mẹ nuôi nên bà H2 đứng ra mua sim, đăng ký thuê bao vào ngày 17/10/2022, tuy nhiên sau khi đăng ký thì bà H2 để thuê bao nêu trên cho bà T sử dụng. Bà T tự trả tiền thuê bao. Việc bà T sử dụng thuê bao gọi điện thoại, nhắn tin cho ai thì bà H2 không biết và không can thiệp vào, bà T tự quyết định việc sử dụng thuê bao. Bà H2 yêu cầu giải quyết vắng mặt trong suốt thời gian giải quyết vụ án.
Luật sư Nguyễn Văn T1 trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không công nhận ông Võ Hồng Q và bà Phan Thị T là vợ chồng, về con chung, nợ chung: Không có nên không đề cập giải quyết. Về tài sản: Đề nghị không phân chia tài sản vì tài sản nhận chuyển nhượng có nguồn gốc từ tiền của bà T, là tài sản riêng của bà T.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang phát biểu ý kiến như sau:
Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký, các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Hồng Q. Không công nhận ông Võ Hồng Q và bà Phan Thị T là vợ chồng. Về con chung, nợ chung: Không có nên không đề cập giải quyết. Về tài sản: Buộc bà Phan Thị T có nghĩa vụ trả lại ½ giá trị phần đất theo định giá với số tiền là 139.820.350 đồng cho ông Võ Hồng Q. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Q phải chịu theo quy định. Về án phí chia tài sản chung: Ông Q, bà T phải nộp trên giá trị tài sản được nhận. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản: Ông Q tự nguyện chịu toàn bộ nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ đã thể hiện trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại tòa án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, chia tài sản, do đó, đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, chia tài sản”, bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn thị xã L nên Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang giải quyết là đúng thẩm quyền theo khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Nguyên đơn ông Võ Hồng Q, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hồ Văn B, bà Cao Tú A, ông Nguyễn Văn H1, bà Hồ Thanh H2 có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Võ Hồng Q và bà Phan Thị T thống nhất giữa ông bà sống chung từ khoảng cuối năm 2022 nhưng không đăng ký kết hôn. Điều này cũng phù hợp với Công văn số 120/UBND-XNTTHN ngày 05/4/2024 của Ủy ban nhân dân xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang xác định ông Võ Hồng Q đã ly hôn năm 2013, đến nay chưa đăng ký kết hôn với ai. Đồng thời, phù hợp với Công văn số 143/UBND ngày 16/5/2024 của Ủy ban nhân dân xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang thể hiện không có tên ông Q và bà T trong sổ bộ H4 kết hôn từ năm 1991 đến năm 2024. Quá trình chung sống thời gian đầu cuộc sống ông bà hạnh phúc nhưng về sau ông bà xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, cuộc sống chung không hạnh phúc nên ông Q và bà T đã không còn sống chung khoảng cuối năm 2023 cho đến nay. Ông Q yêu cầu ly hôn, bà T cũng thống nhất. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân giữa ông bà là trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận không công nhận ông Võ Hồng Q và bà Phan Thị T là vợ chồng.
[2.2] Về tài sản:
[2.2.1] Về nguồn gốc: Ông Võ Hồng Q cho rằng quá trình sống chung ông Q và bà T có tạo lập khối tài sản chung là phần đất tại thửa 1131 diện tích 134,9m², trong đó có 75m² đất ở và 59,9m² đất trồng cây lâu năm tọa lạc tại ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Về nguồn gốc phần đất là nhận chuyển nhượng từ ông Hồ Văn B (tên gọi khác là T2) và bà Cao Tú A, giá chuyển nhượng là 250.000.000 đồng, trong đó ông Q góp 200.000.000 đồng, bà T góp 50.000.000 đồng còn lại. Bà T có ý kiến phản bác cho rằng tài sản nêu trên là tài sản riêng của bà T, từ nguồn tiền riêng của bà T.
Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, nguyên đơn ông Võ Hồng Q đã cung cấp Vi bằng số 01/2024/VB-TPL ngày 06/02/2024 (gọi tắt là Vi bằng) ghi lại các tin nhắn qua Zalo giữa tài khoản của ông Q là “Quân Võ” và tài khoản của bà T được ông Q lưu tên “Vk iu” (hiện nay tài khoản này có tên là “Lan Thanh”) thể hiện ông Q có giao bà T 200.000.000 đồng để mục đích nhận chuyển nhượng thửa đất 1131. Căn cứ vào Công văn số 1665/TT.TCTK-ÐSTK ngày 15/7/2024 của Trung tâm tính cước và thanh toán Mobifone thể hiện số điện thoại “704889186" khi đăng ký thuê bao trả trước tên thuê bao Phan Thị T. Đến ngày 17/10/2022 chuyển sang thuê bao trả sau, tên thuê bao Hồ Thanh H2. Quá trình giải quyết vụ án, bà H2 có ý kiến trình bày do giữa bà H2 và bà T là chỗ quen biết nên bà H2 đứng ra mua sim, đăng ký thuê bao, sau khi đăng ký thì bà H2 để thuê bao nêu trên cho bà T sử dụng. Bà T tự trả tiền thuê bao. Việc bà T sử dụng thuê bao gọi điện thoại, nhắn tin cho ai thì bà H2 không biết và không can thiệp vào, bà T tự quyết định việc sử dụng thuê bao. Điều này cũng được bà T thống nhất là việc bà T sử dụng thuê bao như nhắn tin, gọi điện thì bà H2 không biết. Đồng thời, bà T thừa nhận tài khoản Zalo đang đăng ký số điện thoại “0704.889.xxx” tên hiện tại là “Lan Thanh” do bà Phan Thị T đang sử dụng. Đây là tình tiết sự kiện không cần phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà T cho rằng giai đoạn sống chung với ông Q, ông Q tự lấy điện thoại của bà T đăng nhập Z để nhắn tin qua lại giữa tài khoản của bà T và tài khoản “Quân V” của ông Võ Hồng Q. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã công bố công khai toàn bộ nội dung các tin nhắn được thể hiện trong Vi bằng nêu trên, theo đó ngoài việc thể hiện ông Q có giao cho bà T 200.000.000 đồng để nhận chuyển nhượng đất từ ông Hồ Văn B (tên gọi khác là T2) và bà Cao Tú A như thông tin, hình ảnh thửa đất, các lần giao nhận tiền với ông T2, các giấy tờ về việc nộp thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,...thì nội dung các tin nhắn còn thể hiện cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của ông Q và bà T. Các sự kiện được ghi nhận trong tin nhắn phù hợp và có sự logic về thời gian, không gian, địa điểm với việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thể hiện các thông tin được trao đổi hai chiều giữa ông Q và bà T. Căn cứ vào khoản 3 Điều 2 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ngày 08 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại quy định: Vi bằng là văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi có thật do Thừa phát lại trực tiếp chứng kiến, lập theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định, đây là nguồn chứng cứ theo khoản 8 Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, có căn cứ để Hội đồng xét xử khẳng định việc ông Q có giao cho bà T 200.000.000 đồng với mục đích chuyển nhượng thửa đất 1131 là sự thật.
[2.2.2] Quá trình giải quyết vụ án ông Q yêu cầu được phân chia nhận giá trị số tiền 200.000.000 đồng đã góp, tại phiên tòa sơ thẩm đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu, chỉ yêu cầu nhận số tiền 180.000.000 đồng. Hội đồng xét xử nhận định, căn cứ vào khoản 1 Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 “Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan”, khoản 1 Điều 209 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “Sở hữu chung theo phần là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu được xác định đối với tài sản chung”. Trong vụ án này, giá trị phần đất nhận chuyển nhượng là 250.000.000 đồng, như đã phân tích ở mục [2.2.1] ông Q góp 200.000.000 đồng, tức 80% sở hữu chung. Như vậy, tỷ lệ đóng góp để hình thành sở hữu chung của ông Q nhiều hơn của bà T. Về nguyên tắc “mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền, nghĩa vụ đối với tài sản thuộc sở hữu chung tương ứng với phần quyền sở hữu của mình...” (khoản 2 Điều 209 Bộ luật Dân sự năm 2015). Tuy nhiên, xét mối quan hệ của bà T và ông Q là sống chung với nhau nhưng không đăng ký kết hôn, bà T là người trực tiếp giao dịch chuyển nhượng nên có công sức đóng góp, căn cứ vào khoản 2 Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 “Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ...”. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất mỗi bên được nhận ½ giá trị tài sản. Căn cứ vào Chứng thư thẩm định giá của Công ty cổ phần T3 đã được các đương sự thống nhất giá trị phần đất tranh chấp là 279.640.700 đồng nên ông Q, bà T mỗi người được nhận giá trị tương ứng là 279.640.700 đồng : 2 = 139.820.350 đồng. Bà T đang quản lý, sử dụng đất, đồng thời tại phiên tòa bà T khai đang giữ bản chính giấy chứng quyền sử dụng đất nên được tiếp tục sử dụng đất và có nghĩa vụ trả lại số tiền 139.820.350 đồng cho ông Võ Hồng Q.
[2.2.3] Về tài sản trên đất: Qua kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thể hiện trên đất hiện nay có cây trồng và 01 phần nhà vệ sinh do ông Nguyễn Trung H3 đang sử dụng. Các đương sự không tranh chấp về tài sản trên đất nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết trong vụ án này.
[2.3] Về con chung, nợ chung: Đương sự khai không có nên không đề cập giải quyết trong vụ án này.
[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Võ Hồng Q phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Về án phí chia tài sản: Ông Võ Hồng Q, bà Phan Thị T phải chịu án phí trên giá trị được chia.
[4] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản: số tiền 7.750.000 đồng, đáng lẽ mỗi bên phải chịu 3.875.000 đồng. Tuy nhiên, ông Q thống nhất chịu toàn bộ nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Ông Q đã nộp xong chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản.
[5] Xét quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 14, Điều 16, Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Hồng Q.
[2] Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Võ Hồng Q và bà Phan Thị T.
[3] Về tài sản chung: Bà Phan Thị T được tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số VP04958 tại thửa 1131, tờ bản đồ số 4 diện tích trên giấy chứng nhận là 134,9m², trong đó có 75,0m² đất ở và 59,9m² đất trồng cây lâu năm tọa lạc tại ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh S cấp ngày 09/6/2023 cho bà Phan Thị T.
Bà Phan Thị T có nghĩa vụ trả lại cho ông Võ Hồng Q số tiền 139.820.350 đồng (Một trăm ba mươi chín triệu, tám trăm hai mươi nghìn, ba trăm năm mươi đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[4] Về con chung, nợ chung: Đương sự khai không có nên không đề cập giải quyết trong vụ án này.
[5] Về án phí sơ thẩm:
Nguyên đơn ông Võ Hồng Q phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 6.991.017 đồng (Sáu triệu, chín trăm chín mươi mốt nghìn, không trăm mười bảy đồng) án phí trên giá trị tài sản được chia, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 5.300.000 đồng (Năm triệu, ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo lai thu số 0007703 lập ngày 27 tháng 02 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Ông Võ Hồng Q phải nộp thêm số tiền án phí là 1.991.017 đồng (Một triệu, chín trăm chín mươi mốt nghìn, không trăm mười bảy đồng).
Bà Phan Thị T phải chịu 6.991.017 đồng (Sáu triệu, chín trăm chín mươi mốt nghìn, không trăm mười bảy đồng) án phí trên giá trị tài sản được chia.
[6] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản: Ông Võ Hồng Q tự nguyện chịu số tiền 7.750.000 đồng (Bảy triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Ông Võ Hồng Q đã nộp xong chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản.
[7] Bị đơn bà Phan Thị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 22/7/2024). Nguyên đơn ông Võ Hồng Q, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hồ Văn B, bà Cao Tú A, ông Nguyễn Văn H1, bà Hồ Thanh H2 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Thanh Quyền |
Bản án số 57/2024/HNGĐ-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn chia tài sản
- Số bản án: 57/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn chia tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
