Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN U MINH

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 57/2024/DS-ST

Ngày: 22 - 4 - 2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dư Thanh Nguyễn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Hữu Hiệp

Ông Trần Minh Trường

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 237/2023/TLST-DS, ngày 07 tháng 8 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXX-ST ngày 07 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lâm Quốc T, sinh năm 1979

Địa chỉ cư trú: ấp C, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị đơn:

1/ Bà Phạm Thị N

2/ Ông Nguyễn Thanh P (Nguyễn Thanh P1)

Địa chỉ cư trú: ấp B, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau (bà N và ông P vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 10/7/2023 và tại phiên tòa ông Lâm Quốc T trình bày:

Từ ngày 19/11/2021 đến ngày 27/02/2022 ông Nguyễn Thanh P và bà Phạm Thị N nhiều lần đến gặp ông để mượn nợ, cụ thể như sau: Vào ngày 19/11/2021 mượn số tiền 10.000.000 đồng; ngày 24/11/2021 mượn số tiền 30.000.000 đồng; ngày 30/11/2021 mượn số tiền 15.000.000 đồng; ngày 06/12/2021 mượn số tiền 75.000.000 đồng; ngày 29/12/2021 mượn số tiền 63.000.000 đồng; ngày 08/01/2022 mượn số tiền 10.000.000 đồng; ngày 28/01/2022 mượn số tiền 25.000.000 đồng; ngày 27/02/2022 mượn số tiền 80.000.000 đồng, ông P có giao cho ông 1 chiếc xe SH, Biển kiểm soát 69 H1 – 39787, tổng cộng là 308.000.000 đồng, với lãi suất 4%/tháng; ông PN có đóng lãi được số tiền 35.000.000 đồng nhưng ông PN không đóng lãi tiếp và cũng không trả tiền vốn. Ông T yêu cầu ông PN trả tiền vốn với số tiền 308.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi tiếp theo, khi nào ông P, bà N trả đủ tiền cho ông thì ông trả lại chiếc xe lại cho ông P.

- Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Thanh P và bà Phạm Thị N đúng theo quy định pháp luật nhưng ông P, bà N không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của ông T và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa ông Lâm Quốc T với bà Phạm Thị N và ông Nguyễn Thanh P, xét đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án.

Phạm Thị N và ông Nguyễn Thanh P được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa sơ thẩm nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do nên xét xử vắng mặt bà N, ông P theo khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Ông T xác định bà N, ông P mượn tiền của ông nhiều lần với tổng số tiền là 308.000.000 đồng: vào ngày 19/11/2021 số tiền 10.000.000 đồng; ngày 24/11/2021 số tiền 30.000.000 đồng; ngày 30/11/2021 số tiền 15.000.000 đồng; ngày 06/12/2021 số tiền 75.000.000 đồng; ngày 29/12/2021 số tiền 63.000.000 đồng; ngày 08/01/2022 số tiền 10.000.000 đồng; ngày 28/01/2022 số tiền 25.000.000 đồng; ngày 27/02/2022 số tiền 80.000.000 đồng, các lần đều có làm biên nhận do ông P trực tiếp nhận tiền, trình bày của ông T đối chiếu với các biên nhận do ông T cung cấp phù hợp với nhau. Mặt khác Tòa án thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và triệu tập để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng bà N và ông P vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến gì liên quan đến yêu cầu của ông P, như vậy mặt nhiên bà N và ông P thừa nhận có nợ ông T số tiền là 308.000.000 đồng.

Về lãi suất: Ông T có nhận tiền lãi từ ông P, bà N số tiền 35.000.000 đồng, tại phiên toà ông P không yêu cầu tính thêm phần lãi suất, chỉ yêu cầu trả tiền vốn, xét thấy số tiền lãi ông PN đã đóng cho ông T tính đến thời điểm xét xử không vượt quá tiền lãi theo quy định nên không đối trừ.

Do đó, yêu cầu của ông T yêu cầu ông P và bà N trả số tiền 308.000.000 đồng là có căn cứ chấp nhận. Buộc ông Nguyễn Thanh P và bà Phạm Thị N trả cho ông Lâm Quốc T số tiền 308.000.000 (Ba trăm lẽ tám triệu) đồng.

[3] Về án phí:

Yêu cầu cầu ông Lâm Quốc T được chấp nhận nên không phải chịu án phí, ông T đã nộp tạm ứng án phí số tiền 9.050.000 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011401 ngày 07/8/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh, trả lại cho ông T.

Án phí có giá ngạch bà Phạm Thị N và ông Nguyễn Thanh P phải chịu với số tiền là 15.400.000 (Mười lăm triệu bốn trăm nghìn) đồng. Theo khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 147; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng: Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự;

Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Quốc T về việc yêu cầu bà Phạm Thị N và ông Nguyễn Thanh P trả tiền.

- Buộc bà Phạm Thị N và ông Nguyễn Thanh P trả cho ông Lâm Quốc T số tiền 308.000.000 (Ba trăm lẽ tám triệu) đồng.

Kể từ ngày ông Lâm Quốc T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Phạm Thị N và ông Nguyễn Thanh P chậm thi hành khoản tiền nêu trên thì bà N và ông P còn phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

- Về án phí:

+ Ông Lâm Quốc T không phải chịu án phí, ông T đã nộp tạm ứng án phí số tiền 9.050.000 (chín triệu không trăm năm mươi nghìn) đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011401 ngày 07/8/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh, trả lại cho ông T.

+ Án phí có giá ngạch bà Phạm Thị N và ông Nguyễn Thanh P phải chịu với số tiền là 15.400.000 (Mười lăm triệu bốn trăm nghìn) đồng.

Án xử sơ thẩm ông Lâm Quốc T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Thanh P và bà Phạm Thị N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh Cà Mau (1b);
  • - VKSND tỉnh Cà Mau (1b)
  • - VKSND huyện U Minh, tỉnh Cà Mau (1b);
  • - Chi cục thi hành án huyện U Minh, tỉnh Cà Mau (1b);
  • - Các đương sự (mỗi đ/s1b);
  • - Lưu hồ sơ, văn thư (1b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Dư Thanh Nguyễn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/DS-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 57/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ TRanh chấp hợp đồng vay tài sản giữa ông Tịc với ông Phong, bà NGư
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger