|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 57/2024/HNGĐ-ST Ngày: 21/6/2024 V/v: Tranh chấp Hôn nhân gia đình |
————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thế Tương
Các hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thu Hiền và bà Hoàng Thị Len
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hồng - Kiểm sát viên
Ngày 21 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 24/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị N, sinh năm 1984
HKTT: Thôn H, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình
Căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 13/7/2023.
Địa chỉ hiện nay: Liên bang Nga
Hộ chiếu số C8324264 do Cục Q2 cấp ngày 24/10/2019
Bị đơn: Anh Đỗ Đức Q, sinh năm 1978
Địa chỉ: Xóm E, thôn H, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình
Căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 21/9/2022.
(Chị N, anh Q có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị N trình bày:
Chị và anh Đỗ Đức Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn năm 2019 tại UBND xã B (nay là xã H), huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống và làm ăn tại địa phương. Trong thời gian chung sống, vợ chồng có nhiều bất đồng trong quan điểm sống, chủ yếu do tính tình không hòa hợp, không tìm được tiếng nói chung. Chị N đi lao động tại Liên bang N đã nhiều năm, hai vợ chồng không được ở gần nhau, không quan tâm gì đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, có chung sống với nhau cũng không có hạnh phúc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Q.
Về con chung: Chị và anh Q có 01 con chung là cháu Đỗ Mạnh Q1, sinh ngày 01/8/2003, hiện cháu đã trên 18 tuổi có thể tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh Q không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai và đơn đề nghị xử vắng mặt, bị đơn là anh Q trình bày:
Anh xác định thời gian kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn như chị N trình bày là đúng, năm 2006 chị N đi làm ăn sinh sống tại Liên bang N. Do tính tình không hợp nhau, thường xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, không thể tìm ra được tiếng nói chung. Chị N xin ly hôn, anh đồng ý.
Về con chung: Anh Q xác nhận lời trình bày của chị N về con chung là đúng. Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung vì cháu đã hơn 18 tuổi có thể tự nuôi sống bản thân.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh và chị N không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do vụ án không tiến hành hòa giải được nên đưa ra xét xử theo quy định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến, trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Trần Thị N được ly hôn với anh Đỗ Đức Q. Về con chung và tài sản chung, không đặt ra giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị N và anh Q đều có đơn xin xử vắng mặt, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 28, Điều 228, Điều 238 BLTTDS năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh Q kết hôn với nhau hoàn toàn tự nguyện, hợp pháp. Trong quá trình chung sống, do tính tình không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, có nhiều bất đồng quan điểm sống, mặt khác vợ chồng lại sống xa cách nhau, mỗi người một nơi nên không có tiếng nói chung và không còn tình cảm. Vì vậy mục đích hôn nhân của chị N và anh Q không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Xét hôn nhân của anh, chị chỉ còn là hình thức vì trên thực tế vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm gì đến nhau. Chị N xin ly hôn anh Q là hoàn toàn có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N.
[3] Về con chung: Chị N và anh Q có 01 con chung là cháu Đỗ Mạnh Q1, sinh ngày 01/8/2003, hiện cháu đã trên 18 tuổi có khả năng lao động, có tài sản để tự nuôi sống bản thân, chị N và anh Q không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[4] Về tài sản chung: Chị N và anh Q đều xác định không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[5]. Về án phí: Chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 147, Điều 271, Điều 273 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng Dân sự. khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; NQ 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị N được ly hôn anh Đỗ Đức Q.
- Về con chung: Không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng chị N đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai số 0000107 ngày 05 tháng 3 năm 2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình sang thi hành án phí.
- Về quyền kháng cáo bản án: Anh Q vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án. Chị N vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thế Tương |
Bản án số 57/2024/HNGĐ-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 57/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
