TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 57/2025/HNGĐ - ST.
Ngày: 03 - 6 - 2025.
"V/v ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Hồng Điệp.
Ông Trà Minh Châu.
Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Trân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lê Hồng Như - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 33/2025/TLST - HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2025 về “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1997; địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Bị đơn: Bà Trần Thị H1, sinh năm 2005; địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện lập ngày 27/02/2025 và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc H trình bày: Vào năm 2002, ông Nguyễn Ngọc H và bà Trần Thị H1 tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 37/2010 ngày 03/03/2010. Sau khi kết hôn ông H và bà H1 sống hạnh phúc đến tháng 11 năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống không có tiếng nói chung trong cuộc sống gây ra nhiều mâu thuẫn đến cuộc sống vợ chồng không thể hàn gắn được. Ông Nguyễn Ngọc H và bà Trần Thị H1 sống ly thân từ năm 2010 cho đến nay. Trong quá trình chung sống ông Nguyễn Ngọc H và bà Trần Thị H1 có hai người con chung tên Nguyễn Ngọc H2, sinh năm 2003 (đã thành niên) và Nguyễn Trung C, sinh ngày 22/05/2007. Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc H yêu cầu ly hôn với bà Trần Thị H1; về con chung: Do hai người con chung tên Nguyễn Ngọc H2, sinh năm 2003 và Nguyễn Trung C, sinh ngày 22/05/2007 đã đủ 18 tuổi nên ông H không yêu cầu Tòa án giải quyết; về tài sản chung, nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn bà Trần Thị H1: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cho bà H1, nhưng bà H1 không có ý kiến phản đối gì. Tòa án đã triệu tập hợp lệ bà H1 02 lần để tham gia tố tụng tại phiên hòa giải nhưng bà H1 vẫn vắng mặt nên Tòa án đã lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được. Bị đơn bà Trần Thị H1 đã được triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú tham gia phiên tòa trình bày ý kiến: Việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và xác định tư cách của người tham gia tố tụng trong vụ án là đúng quy định của pháp luật; việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra các chứng cứ và kết quả tranh luận tại phiên tòa xét thấy tình trạng của vợ chồng bà Trần Thị H1 và ông Nguyễn Ngọc H đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông H; về con chung: Ông H xác định trong thời gian chung sống ông H và bà Trần Thị H1 có hai người con chung tên Nguyễn Ngọc H2, sinh năm 2003 và Nguyễn Trung C, sinh ngày 22/05/2007 đã thành niên nên không cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 18/02/2025 và tại phiên tòa bà Trần Thị H1 trình bày: Bà Trần Thị H1 và ông Nguyễn Ngọc H tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 37/2010 ngày 03/03/2010. Về con chung: Do hai người con chung tên Nguyễn Ngọc H2, sinh năm 2003 và Nguyễn Trung C, sinh ngày 22/05/2007 đã đủ 18 tuổi ông H không yêu cầu Tòa án giải quyết; về tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xác định lại quan hệ pháp luật tranh chấp giải quyết “Ly hôn” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong vụ án, bị đơn ông Nguyễn Ngọc H hiện đang cư trú tại ấp E, thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng nên Tòa án nhân dân huyện Long Phú thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, ông Nguyễn Ngọc H và bà Trần Thị H1 tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng, giấy chứng nhận kết hôn số: 149/2014, quyển số 01/2013 ngày 15/4/2014 nên quan hệ hôn nhân giữa ông H và bà H1 là hợp pháp, được pháp luật công nhận. Căn cứ vào khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, ông H có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Xét lý do yêu cầu ly hôn của ông H, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong thời gian chung sống ông, bà luôn xảy ra bất đồng ý kiến trong cuộc sống nên vợ chồng thường cãi vã qua lại, mâu thuẫn kéo dài, từ đó cuộc sống vợ chồng không được hạnh phúc, luôn bất hòa. ông H và bà H1 đã sống ly thân với nhau từ năm 2010 cho đến nay và sau khi sống ly thân thì ông H và bà H1 có gặp nhau nhưng không hàn gắn tình cảm được. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên hòa giải để động viên vợ chồng ông H và bà H1 đoàn tụ với nhau nhưng bà H1 vẫn vắng mặt và ông H vẫn kiên quyết ly hôn với bà H1 vì tình cảm vợ chồng không còn. Như vậy, tình trạng của vợ chồng ông H và bà H1 đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét yêu cầu xin ly hôn của ông H là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho ông H được ly hôn với bà H1.
[3]. Về con chung: Ông Nguyễn Ngọc H xác định trong thời gian chung sống, ông H và bà Trần Thị H1 có 02 người con chung là Nguyễn Ngọc H2, sinh năm 2003 và Nguyễn Trung C, sinh ngày 22/05/2007. Do con chung đã đủ 18 tuổi ông H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
[4]. Về tài sản chung: Ông Nguyễn Ngọc H xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5]. Về nợ chung: Ông Nguyễn Ngọc H xác định trong thời gian chung sống ông H và bà Trần Thị H1 không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6]. Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7]. Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Ông Nguyễn Ngọc H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bà Trần Thị H1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc H.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Ngọc H được ly hôn với bà Trần Thị H1.
- Về con chung: Ông Nguyễn Ngọc H xác định trong thời gian chung sống, ông H và bà Trần Thị H1 có 02 (hai) người con chung là Nguyễn Ngọc H2, sinh năm 2003 và Nguyễn Trung C, sinh ngày 22/05/2007. Do con chung đã đủ 18 tuổi ông H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
- Về tài sản chung: Ông Nguyễn Ngọc H xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về nợ chung: Ông Nguyễn Ngọc H xác định trong thời gian chung sống không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Ngọc H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009284 ngày 24/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng; như vậy, ông Nguyễn Ngọc H đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm. Bà Trần Thị H1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Ánh |
Bản án số 57/2025/HNGĐ - ST ngày 03/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn
- Số bản án: 57/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
