Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỊNH QUÁN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2025/HS-ST

Ngày: 13-03-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Hoa, bà Trần Thúy Nga

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nguyễn Thành Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phước - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2025/TLST-HS ngày 12/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2025/QĐXXST-HS ngày 24/02/2025 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 106/2025/TB-TA ngày 05/3/2025 đối với:

Bị cáo: Nguyễn Thái S, sinh năm 2000 tại Đồng Nai (Có mặt).

Nơi cư trú: Ấp S, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Thiên Chúa; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Ngọc T - 1977 và bà: Nguyễn Thị T1 - 1979; Vợ: Trần Thị Thu H - 2005, chưa có con chung.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị bắt, tạm giữ từ ngày 21/11/2024 đến ngày 29/11/2024 được áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay.

Bị hại: Bà Huỳnh Thị Kim C – 1986, địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (Có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị L – 1990, địa chỉ: Số E T, Phường G, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 19/11/2024 S đi làm về và thấy nhà bà C (nhà thuê) ở địa chỉ: ấp T, xã P, huyện Đ khóa cửa nên S về nhà trọ của mình lấy 01 cây kìm cộng lực, đi đến nhà bà C cắt móc khóa cửa, vào phòng ngủ lấy trộm 01 con heo đất và 01 xe đạp điện đem về nhà đập bể con heo, lấy 350.000 đồng và chạy xe đạp điện đi bán nhưng không bán được. S quay về nhà trọ của mình lấy 01 cây kìm rồi đi sang lại nhà bà C bẻ cong khoen cửa rồi dắt xe đạp điện vào cất, đi vào trong phòng ngủ lấy 01 két sắt màu xám đem về nhà mình dùng tua Vít đục ổ khoá trên két sắt, thấy bên trong 01 sợi dây chuyền vàng có mặt hình thoi, 04 tờ tiền Euro mỗi tờ mệnh giá 50 Euro, 03 tờ tiền Đô mỗi tờ mệnh giá 2 Đô và nhiều giấy tờ cá nhân của bà C. S lấy hết tài sản bỏ vào cốp xe mang đi cất giấu tại chỗ làm thuê, chở két sắt đến xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai vứt bỏ, rồi quay lại nhà lấy số giấy tờ của bà C đem vào phòng vệ sinh đốt bỏ. Sau đó hành vi của S bị phát hiện cung tang vật.

Vật chứng vụ án:

  • 01 xe đạp điện hiệu ASAMA A48 – 12A, số khung: APXB20192748.
  • 01 két sắt hiệu CARAD; Model: 27E; SỐ S: CR001310; kích thước: H230, W470, D390; trọng lượng: 16 kg.
  • 01 dây kim loại màu vàng có mặt hình thoi gắn các hạt đá nhỏ.
  • 04 (bốn) tờ mệnh giá “50 EURO” gồm các số seri là VC1073336148; UA8824076949; UD6943213692; UC4766407264.
  • 03 (ba) tờ mệnh giá “2 DOLLARS” gồm các số seri là B03791819A; F06992193A; C03402426A.
  • Tiền mặt 350.000 đồng.
  • 01 cây kìm cộng lực và 01 cây tua vít.
  • 01 xe mô tô hiệu Yamaha biển kiểm soát 59F1-780.03, số máy: E3N4E083558, số khung: RLCSE7610FY083549.

Căn cứ Kết luận giám định số 7624/KL-KTHS ngày 24/12/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, xác định 01 dây kim loại màu vàng có mặt hình thoi gắn các hạt đá nhỏ, tổng khối lượng 6,4443 gam trong đó thành phần gồm: Vàng 61,12%; Bạc 16,64%; Đồng 22,23%.

Căn cứ Kết luận giám định số 7626/KL-KTHS ngày 23/12/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, xác định 04 (bốn) tờ mệnh giá “50 EURO”; 03 (ba) tờ mệnh giá “2 DOLLARS” gửi giám định là tiền thật.

Căn cứ Kết luận định giá số: 53/KL-HĐĐGTS ngày 27/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Đ xác định: 01 két sắt trị giá 1.500.000 đồng và 01 xe đạp điện trị giá 2.350.000 đồng.

Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐGTS ngày 09/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ xác định 01 dây kim loại màu vàng, tại thời điểm định giá (tháng 11/2024) giá trị là 7.750.000 đồng.

Theo Thông báo tỷ giá mua, bán ngoại tệ ngày 19/11/2024 của Ngân hàng N chi nhánh Đ tỷ giá 01 EUR là 26.340 đồng, tỷ giá 01 USD là 25.175 đồng.

Như vậy tổng giá trị tài sản thiệt hại là 17.369.050 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản thiệt hại, bộ hồ sơ giấy tờ cá nhân đã được bị cáo hỗ trợ khắc phục, làm lại. Nay bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại Cáo trạng số 48/CT-VKSÐQ, ngày 10/02/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét.

Xử lý vật chứng vụ án:

  • Tịch thu tiêu hủy 01 cây kìm cộng lực; 01 cây tua vít.
  • Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha biển kiểm soát 59F1-780.03 bị cáo điều khiển, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị L (chị họ bị cáo) cho S mượn xe nhưng không biết việc S sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp nên không xem xét.
  • Đối với tài sản bị cáo trộm cắp quá trình điều tra đã trao trả cho bị hại là đúng quy định nên không xem xét.
  • Đối với 05 (năm) nhẫn trơn vàng 24K (mỗi chiếc 02 chỉ), quá trình điều tra bị hại trình bày bị mất trộm nhưng không có căn cứ, tài liệu chứng minh, tại phiên tòa bị hại không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, đồng ý về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo không có ý kiến, không tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người trong trường hợp khẩn cấp, kết luận giám định, lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, nên đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 19/11/2024 bị cáo có hành vi lén lút trộm cắp tài sản gồm tiền mặt 350.000 đồng; 01 xe đạp điện hiệu Asama A48-12A, 01 két sắt hiệu Carad, 04 (bốn) tờ tiền Euro, mệnh giá 50; 03 (ba) tờ tiền USD, mệnh giá 2 USD; 01 dây kim loại màu vàng có mặt hình thoi gắn các hạt đá nhỏ của bà Huỳnh Thị Kim C. Tổng giá trị tài sản thiệt hại là 17.369.050 đồng.

Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình; sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã tự nguyện sửa chữa, khắc phục hậu quả; tài sản đã được thu hồi và trả lại cho chủ sở hữu, bị hại có yêu cầu xem xét giảm nhẹ hình phạt là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

[6] Về hình phạt: Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Việc đưa bị cáo ra xét xử và áp dụng hình phạt tù là để cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt, được ủy ban nhân dân xã xác nhận bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, là lao động duy nhất do đó không cần thiết bắt chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền nơi cư trú giám sát, giao dục cũng đủ răn đe và thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, nay không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

[8] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 cây kìm cộng lực; 01 cây tua vít là công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, xét không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha biển kiểm soát 59F1-780.03 bị cáo điều khiển, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị L cho bị cáo mượn nhưng không biết bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội quá trình điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp nên không xem xét.

[9] Về vấn đề khác:

  • Đối với 05 (năm) nhẫn trơn vàng 24K (mỗi chiếc 02 chỉ), quá trình điều tra bị hại trình bày bị mất trộm nhưng không có căn cứ, tài liệu chứng minh, tại phiên tòa bị hại không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[11] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các vấn đề khác trong vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt bị cáo 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 68 và khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
    • -Tịch thu tiêu hủy 01 cây kìm cộng lực; 01 cây tua vít.
    • (Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/02/2025).
  3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

    Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, riêng chị L tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, bị hại, chị Lộc;
  • - VKSND huyện, tỉnh;
  • - Công an huyện ĐQ;
  • - Chi cục THADS huyện ĐQ;
  • - Sở tư pháp tỉnh ĐN;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Huyền Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2025/HS-ST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 57/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: số 57 ngày 13.3.2025 Nguyễn Thái S
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger