|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 57/2025/HNGĐ-ST Ngày: 28-02-2025 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Bê Ông Tô Văn Đức
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết .
Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 364/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐ-ST ngày 17/02/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị M, sinh ngày 20/5/1995 (vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Đỗ Minh T, sinh ngày 24/3/1993 (vắng mặt)
Nơi cư trú: thôn B, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Hiện đang lao động tại Đài Loan).
Chị M ủy quyền cho chị Lê Thị Thanh H, sinh năm 1997; Nơi cư trú: khu N, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ giao nhận văn bản tố tụng với Tòa án (không triệu tập).
Nơi cư trú: thôn B, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn đề ngày 19/11/2024 (có xác nhận của Văn phòng K tại Đ), nguyên đơn chị Trần Thị M trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Đỗ Minh T được tự nguyện, tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 23/11/2012 tại Ủy ban nhân dân thị trấn L (nay là thị trấn Đ), huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống tại nhà bố mẹ đẻ anh T tại thôn B, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hòa hợp, hạnh phúc. Năm 2014, vợ chồng ra ở riêng và kể từ thời điểm đó vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, bất đồng quan điểm về nuôi dưỡng, giáo dục con chung khiến chị và anh T thường xuyên cãi vã, chửi bới lẫn nhau. Đến tháng 6/2023 thì vợ chồng sống ly thân, không ai quan tâm đến ai, không chia sẻ, không hỏi han gì đến nhau, cuộc sống ai người đấy lo, mạnh ai người đấy sống. Mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên giải nhưng không cải thiện được, vợ chồng vẫn không tìm được tiếng nói chung, cuộc sống chung lâm vào tình trạng trầm trọng. Nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài nên chị làm đơn này đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đỗ Minh T để chị sớm ổn định cuộc sống.
Về con chung: Chị và anh T có 02 con chung là cháu Đỗ Minh T1, sinh ngày 19/10/2013 và cháu Đỗ Thị Diệu M1, sinh ngày 02/01/2017, hiện nay các cháu đang sinh sống cùng anh T. Sau khi ly hôn chị đề nghị giao 02 cháu cho anh T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản, công nợ chung: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, chị M trình bày: Vì điều kiện công việc ở xa nên chị không thể về Việt Nam để trực tiếp tham gia giải quyết thủ tục ly hôn tại Tòa án được, nên chị đề được Tòa án xem xét giải quyết yêu cầu ly hôn của chị, không tiến hành hòa giải và cho chị vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Chị ủy quyền giao nhận văn bản tố tụng của Tòa án cho chị Lê Thị Thanh H, sinh năm 1997; nơi cư trú: khu N, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.
Theo bản tự khai anh Đỗ Minh T trình bày:
Về hôn nhân: Về quá trình tìm hiểu đi đến hôn nhân, quá trình chung sống của vợ chồng, nguyên nhân, thời gian mâu thuẫn của vợ chồng anh nhất trí với trình bày của chị M. Nay anh cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh đồng ý ly hôn chị M.
Về con chung: anh, chị M có 02 con chung là cháu Đỗ Minh T1, sinh ngày 19/10/2013 và cháu Đỗ Thị Diệu M1, sinh ngày 02/01/2017, hiện nay các cháu đang sinh sống cùng anh. Sau khi ly hôn anh đề nghị giao 02 cháu cho anh là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: anh không yêu cầu chị M phải cấp dưỡng nuôi con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do anh bận công việc nên anh đề nghị vắng mặt tại các buổi làm việc của Tòa án, không tiến hành hòa giải, anh xin vắng mặt tại các phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, văng mặt tại các phiên xét xử.
Về tài sản, công nợ chung: anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Cháu Đỗ Minh T1, cháu Đỗ Thị Diệu M1 trình bày: Từ khi sinh ra cho đến nay các cháu sinh sống cùng bố và ông bà nội tại thôn B, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Quá trình chung sống được bố chăm sóc đầy đủ cả về thể chất lẫn tinh thần. Mẹ các cháu hiện đang lao động tại nước ngoài. Do các cháu đang chung sống ổn định cùng bố nên nếu bố mẹ ly hôn các cháu muốn ở cùng bố.
Tại phiên tòa sơ thẩm, chị M, anh T vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị M, anh T và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chị Trần Thị M, bị đơn anh Đỗ Minh T có đơn xin xét xử vắng mặt thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt chị M, anh T là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị M; xử:
Về hôn nhân: chị Trần Thị M được ly hôn anh Đỗ Minh T.
Về con chung: Giao cháu Đỗ Minh T1, Đỗ Thị Diệu M1 cho anh Đỗ Minh T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, công nợ chung: Do chị M, anh T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Chị Trần Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp: chị Trần Thị M khởi kiện xin ly hôn anh Đỗ Minh T và yêu cầu giải quyết nuôi con chung. Vì vậy, đây là vụ án “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị M hiện đang lao động tại Đài Loan. Anh T là bị đơn hiện đang cư trú tại tỉnh Bắc Giang. Vì vậy, đây là vụ án có một bên đương sự ở nước ngoài nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3]. Về việc vắng mặt đương sự: Nguyên đơn chị Trần Thị M, bị đơn anh Đỗ Minh T có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị M, anh T.
[4]. Về hôn nhân: chị Trần Thị M và anh Đỗ Minh T kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 23/11/2012 tại Ủy ban nhân dân thị trấn L (nay là thị trấn Đ), huyện L, tỉnh Bắc Giang. Do đó, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng chị M, anh T phát sinh mâu thuẫn, chị M xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên chị đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Đỗ Minh T.
Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị M với anh T, Hội đồng xét xử thấy: chị M, anh T đều xác định vợ chồng được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục của địa phương và có đăng ký kết hôn. Sau kết hôn chị M về nhà anh T làm dâu, vợ chồng chung sống hòa thuận. Năm 2014 vợ chồng chuyển ra ở riêng và từ đó bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Đến tháng 6/2023 vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng nên sống ly thân nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, nuôi con. Mặc dù anh, chị đã được hai bên gia đình hàn gắn tình cảm nhưng không được. Chị M khởi kiện xin ly hôn anh T, anh T xác định vợ chồng có mâu thuẫn và đồng ý ly hôn chị M. Do đó, Hội đồng xét xử xác định chị M, anh T không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị M với anh T là phù hợp với tình trạng hôn nhân thực tế, phù hợp Điều 51, Điều 53 và Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình cũng như đề nghị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[5]. Về nuôi con chung: chị M, anh T có 02 con chung là cháu Đỗ Minh T1, sinh ngày 19/10/2013 và cháu Đỗ Thị Diệu M1, sinh ngày 02/01/2017. Hiện nay các cháu đang sinh sống cùng anh T. Sau ly hôn chị M, anh T đều đề nghị giao 02 con chung cho anh T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Cháu T1, cháu M1 có nguyện vọng được ở cùng bố.
Xét yêu cầu giao con chung sau ly hôn của chị M, anh T, Hội đồng xét xử thấy: chị M hiện đang lao động ở nước ngoài nên không đảm bảo việc trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Cháu T1, cháu M1 trên 07 tuổi có nguyện vọng được sinh sống cùng bố. Ngoài ra, chị M, anh T thống nhất sau ly hôn giao anh T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung. Mặt khác, các con chung từ lúc sinh ra cho đến nay vẫn đang sinh sống ổn định cùng anh T, các cháu phát triển ổn định về cả thể chất lẫn tinh thần. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Chấp nhận yêu cầu của chị M. Giao cháu Đỗ Minh T1, sinh ngày 19/10/2013 và cháu Đỗ Thị Diệu M1, sinh ngày 02/01/2017 cho anh Đỗ Minh T nuôi dưỡng đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật là phù hợp với tình hình thực tế, nguyện vọng của con chung cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Sau khi ly hôn chị Trần Thị M có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị M thực hiện quyền này theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình .
Trường hợp chị Trần Thị M có nguyện vọng thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.
[6]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị M, anh T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7]. Về tài sản, công nợ chung: Do chị M, anh T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[8]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Chị Trần Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
[9]. Về quyền kháng cáo:
Theo Điều 271, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự, chị M đang ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa, có thời hạn kháng cáo bản án của Tòa án là 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Theo Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, anh T vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở Việt Nam có thời hạn kháng cáo bản án của Tòa án là 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M.
- Về hôn nhân: Chị Trần Thị M được ly hôn anh Đỗ Minh T.
- Về nuôi con chung: Giao cháu Đỗ Minh T1, sinh ngày 19/10/2013, cháu Đỗ Thị Diệu M1, sinh ngày 02/01/2017 cho anh Đỗ Minh T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Chị Trần Thị M phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000301 ngày 26/12/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Trần Thị M đã nộp xong án phí sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo bản án:
Sau khi ly hôn, chị Trần Thị M không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở chị mai thực hiện quyền này.
Chị Trần Thị M có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Anh Đỗ Minh T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Thị Thu Hiền |
Bản án số 57/2025/HNGĐ-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 57/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung giữa chị M và anh T
