Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2025/HS-ST

Ngày 21-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Đỗ Thị Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Chi

Ông Trần Văn Tam

- Thư ký phiên tòa: Bà La Nguyễn Minh Thi – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 39/2025/TLST-HS ngày 17/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2025/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025, đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Phan Thị Minh P. Giới tính: Nữ. Tên gọi khác: Bé B. Sinh năm: 1990. Nơi cư trú: 01, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: Lớp 11/12. Nghề nghiệp: Làm thuê. Con ông Phan Văn P1 – Sinh năm 1960 (Còn sống) và bà Nguyễn Thị Ngọc M - sinh năm 1950(Còn sống). Gia đình có 2 anh em, bị cáo là con thứ hai và chưa có chồng, con. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ ngày 04-10-2024 và chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Đ.

2/ Họ và tên: Nguyễn Trọng S. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1987. Nơi cư trú: E, tổ A, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: Lớp 09/12; Nghề nghiệp: Tự do. Con ông Nguyễn Văn Đ – Sinh năm 1964 (Chết) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1964 (Còn sống). Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ ba và chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt quả tang tạm giữ ngày 02-10-2024 và chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.

(Các bị cáo có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Trọng S và Phan Thị Minh P là người sử dụng trái phép ma túy tổng hợp (hàng đá). Để có ma túy sử dụng, S và P đã nảy sinh ý định mua bán trái phép chất ma túy như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 02-10-2024, S đến nhà P tại địa chỉ A, khu phố B, phường L, thành phố B và hỏi mua ma túy của P với giá 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng) về sử dụng và bán kiếm lời. P đồng ý bán. S đưa cho P số tiền 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng). P nhận tiền và đi đến khu vực Ngã tư H thuộc quận B, thành phố Hồ Chí Minh gặp và mua của 01 người đàn ông tên S1 (Chưa rõ lai lịch) 01 gói ma túy với giá 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng). Khoảng 18 giờ cùng ngày, P mang ma túy về nhà và bán gói ma túy nêu trên cho S, thu lợi 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng).

Sau khi mua, S chia gói ma túy thành 06 gói nhỏ rồi bỏ vào trong 01 túi Zip và cất vào trong túi quần bên trái S đang mặc với mục đích để sử dụng và bán cho người nghiện. Khoảng 21 giờ cùng ngày, S đem theo số ma túy nêu trên điều khiển xe môtô biển số 60FN-3600 đi đến ngang cây xăng T4 thuộc tổ A, khu phố B, phường L, thành phố B với mục đích bán cho người nghiện nhưng chưa kịp bán thì bị Công an phường L kiểm tra phát hiện bắt quả tang S cùng tang vật.

Công an phường L lập hồ sơ và chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B để điều tra theo thẩm quyền. Ngày 04-10-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B bắt khẩn cấp đối với Phan Thị Minh P.

Sau khi giữ S, Công an phường L đưa S về kiểm tra hành chính nhà S. Bà Nguyễn Thị N (mẹ của S) chuẩn bị cho S một số quần áo và vật dụng cá nhân và giao nộp cho Công an phường L. Sau khi Công an phường L bàn giao S và đồ dùng của S lên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, qua kiểm tra, Cơ quan điều tra đã phát hiện 01 gói ma túy tổng hợp (hàng đá) trong túi phía trước bên phải quần Jean màu xanh của S. S khai nhận ma túy trên là của S đã mua trước đó mục đích để sử dụng, nếu ai hỏi mua thì sẽ bán kiếm lời. Bà N không biết việc sang cất giấu ma túy trong túi quần.

Quá trình điều tra, Nguyễn Trọng S và Phan Thị Minh P đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.

* Vật chứng:

- Thu giữ của Nguyễn Trọng S:

  • + 06 gói nylon đựng trong 01 túi Zip chứa tinh thể màu trắng được niêm phong có chữ ký và họ tên của Nguyễn Trọng S và hình dấu tròn đỏ Công an phường L.
  • + 01 gói nylon chứa chất màu trắng được niêm phong có chữ ký và họ tên của Nguyễn Trọng S và hình dấu tròn đỏ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B.
  • + 01 điện thoại di động hiệu ViVo V1901A số Imei 868572045563573 số thuê bao 0908023296 của Nguyễn Trọng S dùng để liên lạc mua ma túy.
  • + 01 xe môtô biển số 60FN-3600 của bà Nguyễn Thị N (mẹ của S), bà N cho S mượn sử dụng, không biết S dùng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả xe lại cho bà N quản lý.

- Thu giữ của Phan Thị Minh P:

  • + 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy: 01 chai nhựa, 01 ống hút nhựa, 01 nỏ thủy tinh.
  • + 01 cân điện tử kích thước 07cm x 04cm để cân ma túy.
  • + 05 túi nylon kích thước 10cm x 04cm.
  • + 01 điện thoại di động hiệu S2 J8 số Imei 359051094167780 số thuê bao 09062007558 dùng vào việc phạm tội. (Bút lục: 09, 10)

* Kết luận giám định số 1992/KL-KTHS ngày 09-10-2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 1,4023gam, loại: Methamphetamine.

* Kết luận giám định số 1988/KL-KTHS ngày 09-10-2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu chất màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là chất ma túy có khối lượng: 0,1634 gam, loại: Methamphetamine.

Quá trình điều tra:

  • - P và S còn khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 23-9-2024, S nhắn tin với P qua zalo (nick của S: Trọng Sang, nick của P: Hắc Bạch Vô T1) hỏi P để mua "100 số" ma túy đá giá 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). P đồng ý và nói S chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của P (Số tài khoản của P: 0962007558, ngân hàng M1). S đồng ý rồi chuyển số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) từ tài khoản của S (Số tài khoản của S3, ngân hàng M1) vào tài khoản của P. Tuy nhiên sau khi nhận tiền xong thì P không giao ma túy cho S. Ngày hôm sau, P gọi lại cho S nói "Em lỡ chơi game bắn cá hết tiền, khi nào có em trả lại anh sau". S đồng ý. Lần này P chưa bán ma túy cho S.
  • - Bà Nguyễn Thị N khai không biết việc Nguyễn Trọng S cất giấu ma túy trong túi quần của S. Khi Công an bắt giữ S, bà N chuẩn bị quần áo để S đem theo, do vội nên bà N không kiểm tra bên trong túi quần. S khai bà N không biết việc S cất giấu ma túy trong túi quần.

Tại Bản Cáo trạng số 67/CT-VKSBH-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố các bị cáo Phan Thị Minh P và Nguyễn Trọng S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo:

  • - Phan Thị Minh P mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
  • - Nguyễn Trọng S mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nên không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Nói sau cùng, các bị cáo ân hận về hành vi phạm tội của mình, hứa cải tạo trở thành người tốt và mong muốn được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa nêu. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 18 giờ ngày 02-10-2024, tại địa chỉ A, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Phan Thị Minh P đã có hành vi 01 lần mua bán trái phép 01 gói ma túy tổng hợp (hàng đá) giá 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng) cho Nguyễn Trọng S. P thu lợi bất chính số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng).

Khoảng 21 giờ ngày 02-10-2024, tại trước cây xăng T4 thuộc tổ A, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và tại số nhà E, tổ A, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Trọng S có hành vi cất giấu 1,5657 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích mua bán trái phép cho người khác nhưng chưa bán được thì bị Công an phường L kiểm tra phát hiện quả tang.

Hành vi của các bị cáo Phan Thị Minh P và Nguyễn Trọng S đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự như truy tố của Viện kiểm sát.

Việc truy tố các bị cáo theo Cáo trạng số 67/CT-VKSBH-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa là có cơ sở đúng người và đúng tội.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, là nguyên nhân làm lây lan các bệnh hiểm nghèo và làm phát sinh các loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng rất xấu đến trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng

với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án, nhận thấy các bị cáo phạm tội thuộc đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, chuẩn bị hay thỏa thuận trước. Bị cáo P là người trực tiếp đi mua ma túy và bán lại cho bị cáo S, bị cáo S mua lại ma túy của bị cáo P sau đó phân ma túy và mang theo trong người để sử dụng và bán lại cho người khác. Xét vai trò của các bị cáo thấy rằng mặc dù các bị cáo đều trực tiếp thực hiện việc mua bán ma túy nhưng khối lượng ma túy bị cáo S cất giấu để mua bán lớn hơn bị cáo P. Do đó bị cáo S sẽ phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo P.

Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, vai trò, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra cũng như việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo để đảm bảo sự nghiêm minh của phát luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung. Đồng thời xém xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

  • - Đối với việc vào ngày 23-9-2024 S đã chuyển tiền để mua ma túy cho P nhưng P chưa bán ma túy cho S nên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với P về lần này, nên không đặt ra xem xét.
  • - Đối với người đàn ông (Chưa rõ lai lịch) đã bán ma túy cho P tại khu vực ngã tư “Hàng Xanh” thuộc quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã tách ra và có Công văn số 10867/CSĐT ngày 18-12-2024 thông báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B, thành phố Hồ Chí Minh biết để điều tra, xác minh theo thẩm quyền.
  • - Đối với bà Nguyễn Thị N do không biết việc S cất giấu ma túy trong túi quần, S cũng khai bà N không biết việc S cất giấu ma túy trong túi quần vì vậy không có đủ cơ sở xử lý hình sự đối với bà N nên không đặt ra xem xét.

[4] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy số lượng ma túy còn lại sau giám định, 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy (01 chai nhựa, 01 ống hút nhựa, 01 nỏ thủy tinh), 01 cân điện tử kích thước 07cm x 04cm, 05 túi nylon kích thước 10cm x 04cm.
  • - Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu ViVo V1901A số Imei 868572045563573 số thuê bao 0908023296 của Nguyễn Trọng S, 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J8 số Imei 359051094167780 số thuê bao 09062007558 của Phan Thị Minh P dùng vào việc phạm tội.
  • - Buộc Phan Thị Minh P nộp lại số tiền thu lợi bất chính 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) để sung vào Ngân sách nhà nước.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa)

[5] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[6] Nhận định của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh và hình phạt:

- Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Phan Thị Minh P 03 (Ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 04/10/2024.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng S 03 (ba) năm (02 tháng) tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 02/10/2024.

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy số lượng ma túy còn lại sau giám định tại gói niêm phong số 1992 ngày 09/10/2024 và gói niêm phong số 1998 ngày 09/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ; 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa, 01 ống hút nhựa, 01 nỏ thủy tinh; 01 cân điện tử kích thước 07cm x 04cm, 05 túi nylon kích thước 10cm x 04cm.
  • - Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu ViVo V1901A màu đỏ đen, có số Imei 868572045563573 số thuê bao 0908023296 đã qua sử dụng của Nguyễn Trọng S; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J8 màu đen có số Imei 359051094167780 số thuê bao 09062007558 đã qua sử dụng của Phan Thị Minh P dùng vào việc phạm tội.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa)

- Buộc bị cáo Phan Thị Minh P nộp lại số tiền thu lợi bất chính 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) để sung vào Ngân sách nhà nước.

3. Về án phí:

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Buộc các bị cáo Phan Thị Minh P và Nguyễn Trọng S mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND TP. Biên Hòa;
  • - Cơ quan CSĐT CA TP. Biên Hòa;
  • - Cơ quan THAHS CA TP. Biên Hòa;
  • - Phòng PV06 CA T. Đồng Nai;
  • - Nhà Tạm giữ CA TP. Biên Hòa;
  • - Chi cục THADS TP. Biên Hòa;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Huyền

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

T6

[1] Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm a, b khoản 2, khoản 5 Điều 255, khoản 2 Điều 51, Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017

Xử phạt: Nguyễn Lâm T2 Đ 01 năm 06 tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”. 08 năm tù về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 09 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/01/2023.

Buộc bị cáo nộp phạt số tiền 50.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.

[2] Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm a, b khoản 2, khoản 5 Điều 255, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 54, Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt V (tên gọi khác: Vũ Khải H2) 01 năm tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” 05 năm tù về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 06 năm tù, thời hạn tù từ ngày 31/7/2022.

Buộc bị cáo nộp phạt số tiền 50.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.

[3] Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt Nguyễn Đức T3 08 năm tù về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt 08 năm tù của Bản án số 42/2023/HSST-ST ngày 26/5/2023 của Tòa án nhân dân quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả 2 bản án là 16 năm tù, thời hạn tù từ ngày 14/8/2022.

Buộc bị cáo nộp phạt số tiền 50.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 57/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger