Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 57/2025/HNGĐ-ST

Ngày 21 – 02 - 2025

V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Phấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Mai khanh

Ông Trần Xuân Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng – Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 630/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2024 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Minh T, sinh ngày 17/5/1984. Nơi ĐKHKTT: Số nhà C, ngõ E, đường Đ, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Địa chỉ cư trú: Số nhà C, đường số B, khối T, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Đề nghị vắng mặt;

- Bị đơn: Anh Nguyễn Anh T1, sinh năm 1977. Nơi ĐKHKTT trước khi xuất cảnh: Số nhà C, ngõ E, đường Đ, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Hiện đang cư trú tại Ba Lan. Vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 23 tháng 10 năm 2024 và lời khai, chị Trần Thị Minh T trình bày: Chị T và anh Nguyễn Anh T1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 21 tháng 3 năm 2001 tại Ủy ban nhân dân phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, hai người chung sống hạnh phúc với nhau đến năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do quan điểm sống giữa hai người không phù hợp nhau, bất đồng trong cuộc sống không thể hằn gắn. Tháng 01 năm 2022, anh T1 xuất cảnh sang Cộng hòa B làm việc và vợ chồng cắt đứt mọi liên lạc, không quan tâm gì đến nhau kể cả vật chất lẫn tinh thần. Nay xác định, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn anh Nguyễn Anh T1.

- Về con chung: Chị T và anh Nguyễn Anh T1 có 02 con chung là anh Nguyễn Danh T2, sinh ngày 27/9/2004, hiện đã đủ 18 tuổi trưởng thành và cháu Nguyễn Trần Ngọc D, sinh ngày 05/6/2011, hiện đang do chị T nuôi dưỡng. Nay ly hôn, cháu T2 đã đủ 18 tuổi trưởng thành do cháu tự quyết định, còn cháu D chị T có nguyện vọng tiếp tục nuôi dưỡng cháu và không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng.

- Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về phía anh Nguyễn Anh T1: Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã gửi Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Anh T1 thông qua anh Nguyễn Danh T2 (con trai của anh Nguyễn Anh T1). Anh Nguyễn Anh T1 đã biết được việc chị Trần Thị Minh T yêu cầu ly hôn, giải quyết các nội dung liên quan nhưng hiện anh Nguyễn Anh T1 vắng mặt cũng không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ thực hiện đúng quy định, đảm bảo quyền, nghĩa vụ của đương sự. Đề nghị Hội đồng xét xử, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Minh T; cho ly hôn giữa chị T và anh T1; giao con chung chưa thành niên cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng; tài sản chung không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Anh T1 hiện đang ở nước ngoài, trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, theo anh Nguyễn Danh T2 (con trai của anh Nguyễn Anh T1) cung cấp thì, anh Nguyễn Anh T1 hiện đang làm việc ở Cộng hòa B. Mặc dù, anh T2 không biết nơi cư trú cụ thể nhưng anh T1 thỉnh thoảng liên lạc điện thoại, qua mạng xã hội với anh T2 và người thân trong gia đình. Anh Nguyễn Anh T1 đã biết được chị T yêu cầu ly hôn, giải quyết các nội dung liên quan nhưng anh T1 không có ý kiến gì. Do đó, việc anh Nguyễn Anh T1 vắng mặt, thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ; từ chối khai báo. Đối với chị Trần Thị Thanh T3 đã có quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án và đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 207, khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành giải quyết, xét xử vụ án theo thủ tục chung để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Tại phiên tòa, mặc dù vắng mặt nhưng chị Trần Thị Minh T vẫn giữ nguyên nội dung khởi kiện, yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Anh T1 và giải quyết các nội dung liên quan. Xét thấy, chị Trần Thị Minh T và anh Nguyễn Anh T1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định. Sau khi kết hôn, hai người chung sống hạnh phúc với nhau đến năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do quan điểm sống giữa hai người không phù hợp nhau, bất đồng trong cuộc sống không thể hằn gắn. Tháng 01 năm 2022, anh T1 xuất cảnh sang Cộng hòa B làm việc và vợ chồng cắt đứt mọi liên lạc, không quan tâm gì đến nhau kể cả vật chất lẫn tinh thần. Nay chị Trần Thị Minh T xác định, tình cảm vợ chồng không còn; mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình giải quyết cho ly hôn để giải phóng cho nhau.

[2.2] Về con chung: Chị Trần Thị Minh T và anh Nguyễn Anh T1 có 02 con chung là anh Nguyễn Danh T2, sinh ngày 27/9/2004, hiện đã đủ 18 tuổi trưởng thành và cháu Nguyễn Trần Ngọc D, sinh ngày 05/6/2011, hiện đang do chị T nuôi dưỡng. Nay ly hôn, cháu T2 đã đủ 18 tuổi trưởng thành do cháu tự quyết định. Xét hiện anh T1 đang ở nước ngoài chưa có điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng nên cần giao cháu D cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chưa thành niên, anh Nguyễn Anh T1 và chị Trần Thị Minh T có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con khi có yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

[2.3] Tài sản chung: Hiện tại chị Trần Thị Minh T không yêu cầu giải quyết và anh Nguyễn Anh T1 cũng chưa có ý kiến gì nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.

[3] Về án phí: Chị Trần Thị Minh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 207; khoản 3 Điều 228; khoản 1, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự và các Điều 53, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị Minh T và anh Nguyễn Anh T1.
  2. Về nuôi con chung:
    1. Giao con chung cháu Nguyễn Trần Ngọc D, sinh ngày 05/6/2011 cho chị Trần Thị Minh T trực tiếp nuôi dưỡng.
    2. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Trần Thị Minh T không yêu cầu và anh Nguyễn Anh T1 chưa có ý kiến nên Tòa án chưa xem xét.

    Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chưa thành niên, anh Nguyễn Anh T1 và chị Trần Thị Minh T có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con khi có yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung: Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
  4. Về án phí: Chị Trần Thị Minh T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo biên lai số 0013802 ngày 20/12/2024.
  5. Về quyền kháng cáo:
    1. Chị Trần Thị Minh T vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc được tống đạt hợp lệ bản sao bản án sơ thẩm.
    2. Anh Nguyễn Anh T1 đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được hoặc được niêm yết bản sao bản án sơ thẩm theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND phường Vinh Tân, thành phố Vinh, NA;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Phấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2025/HNGĐ-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 57/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Minh T, Nguyễn Anh T1 -Tranh chấp về hôn nhân gia đình
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger