Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 57/2025/HNGĐ-ST

Ngày 14-02-2025

Về tranh chấp: Ly hôn, nuôi con chung

giữa chị Bùi Thị Ngân và anh Trần Gia Khang

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Mạnh Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ngô Kim Thành

Bà Trịnh Thị Kim Cúc

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Huyền Thương - Thư ký Toà án nhân dân

thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định

tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ích Sáng - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 464/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Bùi Thị N, sinh năm 1999; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú: thôn V, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi ở hiện nay: xóm A, thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

Bị đơn: Anh Trần Gia K, sinh năm 2000; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: thôn V, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa chị N, anh K có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại đơn khởi kiện ngày 09-12-2024 và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn chị Bùi Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Gia K được hai bên gia đình tổ chức cưới theo phong tục tập quán vào tháng 5 năm 2019 đến tháng 7 năm 2020 thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện M (nay là thành phố N), tỉnh Nam Định.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hai bên bất đồng quan điểm, không hoà hợp về lối sống và tính cách nên thường xuyên xảy ra va chạm cãi chửi nhau. Bản thân anh K ham chơi, không quan tâm đến gia đình, có quan hệ tình cảm với nhiều người phụ nữ chị đã nhiều lần nói chuyện và khuyên bảo anh K với mong muốn anh K suy nghĩ thay đổi cách sống để vợ chồng có cuộc sống hạnh phúc nhưng anh K không có sự thay đổi nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, hai bên sống thiếu tình cảm và không còn sự tôn trọng lẫn nhau, vợ chồng đã sống ly thân. Nay chị xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể khắc phục hàn gắn được nữa, nên chị đề nghị Toà án giải quyết ly hôn với anh Trần Gia K.

Về con chung: Chị và anh Trần Gia K có hai con chung là Trần Gia Hải A, sinh ngày 04-12-2019 (Giới tính: Nam), Trần Gia Hải T, sinh ngày 13-01-2023 (Giới tính: Nam). Chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị và anh K mỗi người nuôi một con, chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Trần Gia Hải T, anh K sẽ nuôi cháu Trần Gia H A và hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Về tài sản chung và công nợ chung: Chị xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không có công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Bị đơn là anh Trần Gia K đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng anh K không đến Tòa án để làm bản tự khai, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nên anh K không có lời khai thể hiện quan điểm trong quá trình giải quyết vụ án.

Tại phiên toà anh Trần Gia K trình bày:

Anh và chị Bùi Thị N có đăng ký kết hôn vào tháng 7 năm 2020 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện M (nay là thành phố N), tỉnh Nam Định. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do bản thân anh ham chơi bời có quan hệ ngoại tình với người khác. Vợ chồng cũng có thời gian dài cố gắng khắc phục mâu thuẫn nhưng không có kết quả nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Chị N có đơn đề nghị Toà án giải quyết ly hôn, bản thân anh cũng nhận ra được những sai sót lỗi lầm của mình, anh mong muốn vợ chồng về đoàn tụ để cùng nhau nuôi dạy các con nên anh không nhất trí ly hôn với chị N.

Về con chung: Anh xác nhận vợ chồng có hai con chung là Trần Gia Hải A, sinh ngày 04-12-2019 (Giới tính: Nam), Trần Gia Hải T, sinh ngày 13-01-2023 (Giới tính: Nam). Nếu vợ chồng ly hôn quan điểm của anh là chị N nuôi cả hai con chung hoặc anh sẽ nuôi cả hai con chung vì không muốn tách rời các cháu ra. Về cấp dưỡng nuôi con hai bên sẽ tự thoả thuận với nhau.

Về tài sản chung, công nợ chung: Hai bên không có tài sản chung, không có công nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

3. Tại biên bản xác minh tình trạng hôn nhân ngày 09-12-2024 tại Ủy ban nhân dân xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định. Chị Bùi Thị N và anh Trần Gia K đăng ký kết hôn ngày 16-7-2020 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện M (nay là thành phố N), tỉnh Nam Định. Chị Bùi Thị N và anh Trần Gia K đăng ký thường trú tại thôn V, xã M, thành phố N. Về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng giữa chị N và anh K trong quá trình chung sống chính quyền địa phương không nắm được, tuy nhiên hiện nay chị N đã về nhà bố mẹ đẻ ở tỉnh Thái Bình sinh sống (địa chỉ cụ thể không rõ). Chị N và anh K có hai con chung là Trần Gia Hải A, sinh ngày 04-12-2019, Trần Gia Hải T, sinh ngày 13-01-2023.

4. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến.

Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án thẩm phán đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ theo Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên toà, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Thư ký phiên toà đã tuân thủ đúng nhiệm vụ quyền hạn theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: các đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự

Về việc giải quyết vụ án:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Bùi Thị N và anh Trần Gia K đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Bùi Thị N.
  • - Về con chung: Căn cứ vào các quy định tại Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình giao cho chị Bùi Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con chung là Trần Gia Hải T, sinh ngày 13-01-2023. Giao cho anh Trần Gia K trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con chung là Trần Gia Hải A, sinh ngày 04-12-2019. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
  • - Về án phí: Đương sự phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị N và anh Trần Gia K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện M (nay là thành phố N), tỉnh Nam Định vào ngày 16-7-2020 nên là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do cuộc sống chung không hòa hợp, nảy sinh nhiều bất đồng. Bản thân anh K ham chơi bời có quan hệ ngoại tình với người khác làm ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình. Mặc dù hai bên đã có thời gian cố gắng khắc phục mâu thuẫn nhưng không đem lại kết quả nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng và sống ly thân từ tháng 12 năm 2024 cho đến nay. Tại phiên tòa chị N vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Trần Gia K. Anh K không nhất trí ly hôn.

Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Bùi Thị N và anh Trần Gia K mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho ly hôn giữa chị Bùi Thị N và anh Trần Gia K.

[2] Về nuôi con chung: Chị Bùi Thị N và anh Trần Gia K có hai con chung là Trần Gia Hải A, sinh ngày 04-12-2019 (Giới tính: Nam), Trần Gia Hải T, sinh ngày 13-01-2023 (Giới tính: Nam). Xét thấy, việc chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn là quyền và nghĩa vụ của cả vợ và chồng, chị N và anh K đều có công việc và thu nhập đảm bảo được điều kiện nuôi con. Tại phiên tòa, chị N, anh K không thỏa thuận được với nhau về việc giao nuôi con chung nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét các quy định của pháp luật để giao nuôi con chung căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của các cháu. Cháu Trần Gia H T còn nhỏ, dưới 36 tháng tuổi cần sự chăm sóc của mẹ nên Hội đồng xét xử giao cho chị Bùi Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con chung là Trần Gia Hải T, sinh ngày 13-01-2023 (Giới tính: Nam). Giao cho anh Trần Gia K trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con chung là Trần Gia Hải A, sinh ngày 04-12-2019 (Giới tính: Nam) là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N và anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

[3] Về tài sản chung và công nợ chung: Chị Bùi Thị N, anh Trần Gia K cùng xác nhận vợ chồng không có tài sản chung và công nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chị Bùi Thị N là nguyên đơn trong vụ án nên phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Bùi Thị N và anh Trần Gia K.
  2. Về con chung: Giao cho chị Bùi Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Trần Gia Hải T, sinh ngày 13-01-2023 (giới tính: Nam). Giao cho anh Trần Gia K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Trần Gia Hải A, sinh ngày 04-12-2019 (Giới tính: Nam).

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Bùi Thị N và anh Trần Gia K không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Chị Bùi Thị N, anh Trần Gia K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Bùi Thị N nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị Bùi Thị N đã nộp tại biên lai số 0002470 ngày 02-12-2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định.
  2. Quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị N, anh Trần Gia K có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì chị N, anh K có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND TP.Nam Định;
  • - Chi cục THADS TP. Nam Định;
  • - UBND xã Mỹ Phúc, TP. Nam Định;
  • - Các đương sự;
  • - Hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Mạnh Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2025/HNGĐ-ST ngày 14/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 57/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị Ngân - Trần Gia Khang ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger