|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 57/2024/HS-ST Ngày: 28-11-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Hồng Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Dương Ngô Phiên .
- Bà Nguyễn Thị Cương.
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải- Kiểm sát viên.
Ngày 28-11-2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 49/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST-HS ngày 15/11/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nông Đức T, sinh năm 1996; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản L, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hoá: 8/12; Bố đẻ: Nông Văn C, sinh năm 1949; Mẹ đẻ: Phạm Thị N, sinh năm 1958; Vợ: Nông Thị Thu P, sinh năm 1998; Con: Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2019; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba;
Tiền sự: Chưa có;
Tiền án:
- - Tại bản án số 01/2023/HS-ST ngày 05/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế xử phạt 01 năm 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 06/9/2022, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/5/2024.
Nhân thân:
- - Tại bản án số 03/2015/HS-PT ngày 06/01/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phúc thẩm phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 15/4/2014, chấp hành xong án phí ngày 05/5/2015, chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2015.
- - Tại bản án số 03/2016/HS-ST ngày 20/01/2016 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 29/10/2015, chấp hành xong án phí ngày 02/12/2016, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/7/2016.
- - Ngày 16/4/2019, bị Công an huyện Y xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản với số tiền 1.500.000 đồng.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 07/8/2024 và tạm giam từ ngày 13/8/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1988 - (vắng mặt); Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
- Chị Nông Thị Thu P, sinh năm 1998 - (có mặt). Nơi cư trú: Bản L, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
* Người làm chứng:
- Anh Lưu Đức Q, sinh năm 1989 - (vắng mặt); Nơi cư trú: bản T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
- Anh Hoàng Văn H, sinh năm 1983 - (vắng mặt). Nơi cư trú: bản T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 20 phút ngày 07/8/2024, tại khu vực trước cửa quán của anh Lưu Đức Q, sinh năm 1989 thuộc bản Tràng Bắn, xã Đ, huyện Y, tổ công tác Công an huyện Y phối hợp với Công an xã Đ bắt quả tang Nông Đức T, sinh năm 1996 ở bản L, xã Đ, huyện Y có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) túi nilon màu xanh, một đầu có rãnh khóa nhựa, bên trong đựng: 01 (một) gói giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng bên trong có chứa chất cục bột màu trắng (nghi là chất ma túy); 01 (một) gói giấy bạc có hai mặt đều màu trắng bạc bên trong đựng chất cục bột màu trắng (nghi là chất ma túy) thu tại túi quần phía trước bên phải T đang mặc; 01 (một) gói giấy ăn, bên trong gói giấy ăn có 03 (ba) gói giấy đều có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng bên trong đều chứa chất cục bột màu trắng (nghi là chất ma túy) thu tại túi quần phía sau bên trái T đang mặc được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT”; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng tại phía dưới màn hình bên phải bị nứt vỡ, mặt sau có chữ VIVO; 01 (một) điện thoại di động Masstel có vỏ màu đen được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT1”; số tiền 515.000 đồng và 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Dream, biển kiểm soát 98H1-0806, xe không có gương chiếu hậu, trong cốp xe không có đồ vật, tài sản gì. Sau đó, Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định.
Cùng ngày, Công an huyện Y tiến hành lấy mẫu (nước tiểu) xét nghiệm ma túy đối với Nông Đức T. Kết quả: T dương tính với chất ma túy.
Ngày 07/8/2024, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nông Đức T ở bản L, xã Đ, huyện Y. Kết quả không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Ngày 07/8/2024, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định số 644 đối với mẫu vật thu giữ nghi là chất ma túy. Tại Kết luận giám định số 1766/KL-KTHS ngày 12/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận trong 01 (một) phong bì ký hiệu “QT” đã được niêm phong gửi giám định:
- - Chất cục bột màu trắng đựng trong 02 (hai) gói giấy bạc (trong đó: 01 (một) gói có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng và 01 (một) gói có hai mặt màu trắng bạc), được đựng trong 01 (một) túi nilon màu xanh, một đầu có rãnh khoá bằng nhựa là ma túy, có tổng khối lượng 0,102 gam, loại Heroine.
- - Chất cục bột màu trắng đựng trong 03 (ba) gói giấy bạc đều có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, được đựng trong 01 (một) gói giấy màu trắng là ma túy, có tổng khối lượng 0,193 gam, loại Heroine.
Ngày 14/8/2024, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định số 675 để giám định số khung, số máy xe mô tô thu giữ của Nông Đức T. Tại Kết luận giám định số 1880/KL-KTHS ngày 30/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “Dãy số máy LC150FMG*00406139*, dãy số khung *LXDXCGLOY50092* trên xe mô tô nhãn hiệu Loncin, dán tem số loại Dream II, màu sơn nâu, biển kiểm soát 98H1 - 0806 gửi giám định không bị hàn ghép, đóng đục lại”.
Quá trình điều tra, Nông Đức T khai nhận: Khoảng 11 giờ ngày 07/8/2024, T điều khiển xe mô tô kiểu dáng Dream, biển kiểm soát 98H1-0806 đi tìm mua ma túy. Khi đến khu vực đập S, thuộc địa phận xã H, huyện Y, T gặp Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1988 ở thôn T, xã Đ, huyện Y đang đứng ở ven đường. Do biết Đ là người nghiện ma túy nên T hỏi mua ma túy thì Đ đồng ý. Sau đó, T mua của Đ 05 (năm) gói ma túy loại Heroine đựng trong túi nilon màu xanh, một đầu có rãnh khóa nhựa với số tiền 500.000 đồng, T cầm túi nilon đựng ma túy đi về nhà. Trên đường về, T lấy ra 03 (ba) gói ma túy, gói vào trong giấy ăn cất giấu trong túi quần phía sau bên trái, còn 02 (hai) gói ma túy T vẫn để trong túi nilon màu xanh được cất giấu trong túi quần phía trước bên phải rồi đi về nhà. Khoảng hơn 13 giờ cùng ngày, T vẫn để số ma túy trên trong túi quần đang mặc và điều khiển xe mô tô trên từ nhà ở bản L, xã Đ, huyện Y đến quán ăn của anh Lưu Đức Q để mua đồ ăn. Khi T đến khu vực trước cửa quán anh Q thì bị tổ công tác Công an huyện Y phối hợp với Công an xã Đ phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng như trên. T tự khai nhận toàn bộ số ma túy nêu trên là của T đem theo để sử dụng vì T là người nghiện ma túy. Ngoài ra, T còn khai nhận ngày 06/8/2024, T có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” tại nhà ở bản L, xã Đ, huyện Y.
Căn cứ lời khai của Nông Đức T. Ngày 07/8/2024, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1988 ở thôn T, xã Đ, huyện Y, kết quả không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Cơ quan điều tra tiến hành làm việc Nguyễn Văn Đ khai nhận: Sáng ngày 07/8/2024, sau khi uống Methadone tại Trung tâm y tế huyện Y, một mình Đ đi xuống thành phố B đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì về nhà. Ngày 07/8/2024, Đ không gặp và không bán ma túy cho T. Do lời khai giữa T và Đ có mâu thuẫn, ngày 20/9/2024, Cơ quan điều tra tiến hành đối chất nhưng Đ và T vẫn giữ nguyên lời khai. Ngoài lời khai của T, không có tài liệu nào khác chứng minh Đ đã bán ma túy cho T, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với Đ về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Ngày 01/10/2024, Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra 02 điện thoại di động thu giữ của T, kết quả không phát hiện nội dung gì liên quan đến hành vi phạm tội của T.
Ngày 04/10/2024, Cơ quan điều tra tiến hành thực nghiệm điều tra, Nông Đức T thực hiện một cách thuần thục các động tác mua và cất giấu ma túy vào ngày 07/8/2024.
Về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 06/8/2024 tại nhà ở của T, ngày 02/10/2024, Công an huyện Y ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 104/QĐ-XPHC đối với T với số tiền 1.500.000 đồng.
Đối với các đồ vật, tài sản thu giữ, quá trình điều tra xác định: 01 điện thoại di động VIVO; 01 điện thoại di động Masstel là tài sản của T dùng để liên lạc hàng ngày, không liên quan đến hành vi phạm tội. Số tiền 515.000 đồng (năm trăm mười lăm nghìn đồng), do T lao động tích cóp mà có, không liên quan đến hành vi phạm tội của T, T đề nghị được trả lại. 01 xe mô tô kiểu dáng Dream, biển kiểm soát 98H1 - 0806 đăng ký chủ xe Nông Văn H1, ở T, huyện L, chiếc xe anh H1 mua năm 2011 và sử dụng một thời gian đến năm 2014 anh H1 bán cho một người đàn ông không nhớ tên, địa chỉ, khi bán kèm theo đăng ký xe và không viết giấy tờ gì. Kết quả tra cứu không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng là tài sản chung vợ chồng. T tự ý sử dụng chiếc xe mô tô trên đi mua ma túy, chị Nông Thị Thu P là vợ không biết T sử dụng chiếc xe đi mua ma túy, chị P không đề nghị nhận lại chiếc xe trên.
Cáo trạng số 52/CT-VKS-YT ngày 30/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế truy tố bị cáo Nông Đức T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.
Tại phiên tòa hôm nay, sau phần xét hỏi tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế thực hành quyền công tố đã luận tội đối với bị cáo, phân tích, đánh giá tính chất nguy hiểm của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nông Đức T từ 01 năm 6 tháng đến 01 năm 9 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy", thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 07/8/2024.
* Về xử lý vật chứng: điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong có ký hiệu "QT" có dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B, chữ ký của Giám định viên và đại diện Cơ quan trưng cầu giám định.
- + Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Dream, biển kiểm soát 98H1 - 0806, xe không có gương chiếu hậu, xe cũ đã qua sử dụng, trong cốp xe không có đồ vật tài sản gì.
- + Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động VIVO; 01 điện thoại di động Masstel và số tiền 515.000 đồng.
* Về án phí: điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo được miễn nộp án phí HSST./.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn Đ và người làm chứng anh Lưu Đức Q, anh Hoàng Văn H đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 292; Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt những người trên.
[2]. Về tội danh:
Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều thừa nhận: Hồi 13 giờ 20 phút ngày 07/8/2024, tại khu vực trước cửa quán của anh Lưu Đức Q, sinh năm 1989, thuộc bản T, xã Đ, huyện Y, tổ công tác Công an huyện Y phối hợp với Công an xã Đ bắt quả tang Nông Đức T, sinh năm 1996 ở bản L, xã Đ, huyện Y đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,295 gam ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng.
Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm. Bị cáo tàng trữ trái phép 0,295 gam ma túy Heroine, do đó cần buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng số 52/CT-VKS-YT, ngày 30/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Về tính chất, mức độ của hành vi:
Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, xâm phạm sự độc quyền về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm hại đến trật tự công cộng nhưng vì nhu cầu của bản thân bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có nhân thân xấu đã bị xét xử về tội trộm cắp tài sản, bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo còn vi phạm Luật phòng chống ma túy, trực tiếp làm gia tăng tệ nạn ma túy tại địa phương. Nghiện ma túy còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp thu nhập không ổn định, quá trình điều tra, xác minh, bị cáo là lao động tự do, không có tài sản riêng có giá trị, bị cáo thuộc đối tượng người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc đối tượng hộ cận nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm”, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[5]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có ông ngoại được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng ba nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6]. Từ các tình tiết trên, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo T là người có nhân thân xấu, ngày 06/01/2015 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phúc thẩm phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”; ngày 20/01/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thế xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 16/4/2019, bị Công an huyện Y xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản với số tiền 1.500.000 đồng và có tiền án: ngày 05/01/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thế xử phạt 01 năm 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học, chứng tỏ bị cáo là người khó cải tạo, coi thường pháp luật. Vì vậy, cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian cần thiết mới đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật, có ích cho gia đình và xã hội.
[7]. Đối với Nguyễn Văn Đ mà theo lời khai của T là người đã bán ma túy cho T, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1988 ở thôn T, xã Đ, huyện Y, kết quả không thu giữ đồ vật, tài liệu gì. Cơ quan điều tra tiến hành làm việc Nguyễn Văn Đ khai nhận: Sáng ngày 07/8/2024, sau khi uống Methadone tại Trung tâm y tế huyện Y, một mình Đ đi xuống thành phố B đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì về nhà. Ngày 07/8/2024, Đ không gặp và không bán ma túy cho T. Do lời khai giữa T và Đ có mâu thuẫn, ngày 20/9/2024, Cơ quan điều tra tiến hành đối chất nhưng Đ và T vẫn giữ nguyên lời khai. Ngoài lời khai của T, không có tài liệu nào khác chứng minh Đ đã bán ma túy cho T, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với Đ về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng quy định pháp luật.
Đối với Nông Đức T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 06/8/2024 tại nhà ở của T, ngày 02/10/2024, Công an huyện Y ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 104/QĐ-XPHC đối với T với số tiền 1.500.000 đồng là đúng quy định pháp luật.
[8]. Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) phong bì niêm phong có ký hiệu "QT" có dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B, chữ ký của Giám định viên và đại diện Cơ quan trưng cầu giám định bên trong chứa 0,207 gam ma túy Heroine còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) phong bì niêm phong có ký hiệu "Điện thoại" có dấu niêm phong của Cơ quan CSĐT Công an huyện Y, chữ ký cùng tên của thành phần tham gia niêm phong (bên trong có 01(một) điện thoại di động màn hình cảm ứng tại phía dưới màn hình bên phải bị nứt vỡ, mặt sau có chữ VIVO, mật khẩu màn hình: 1996, có số Imei 1: 861711041316894, Imei 2: 861711041316886, kèm theo 01 (một) sim, điện thoại cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy và 01 (một) điện thoại di động Masstel có vỏ màu đen, có số Imei 1: 352766246949960, số Imei 2: 352766246949978, kèm theo 01 (một) sim, điện thoại cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy); số tiền 515.000 đồng (năm trăm mười lăm nghìn đồng) tiền ngân hàng N1 đều là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo.
Đối với 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Dream, biển kiểm soát 98H1 - 0806, xe không có gương chiếu hậu, xe cũ đã qua sử dụng, trong cốp xe không có đồ vật tài sản gì là phương tiện bị cáo sử dụng để đi mua ma túy. Đây tài sản chung vợ chồng, Hội đồng xét xử xác định bị cáo dùng tài sản chung của vợ chồng làm công cụ, phương tiện phạm tội, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự thì phải tịch thu toàn bộ công cụ, phương tiện đó. Chị Nông Thị Thu P là vợ bị cáo không đề nghị nhận lại tài sản, nếu chị P có tranh chấp về quyền sở hữu hoặc yêu cầu bồi thường một phần giá trị của tài sản chung mà bị cáo dùng làm công cụ phương tiện phạm tội thì có quyền khởi kiện vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
[9]. Về án phí: Bị cáo T thuộc đối tượng người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đối tượng hộ cận nghèo nên miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nông Đức T theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự; Căn cứ vào Điều 292, Điều 293, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
-
Về hình phạt và tội danh: Xử phạt bị cáo Nông Đức T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ 07/8/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nông Đức T.
-
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong có ký hiệu "QT" có dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B, chữ ký của Giám định viên và đại diện Cơ quan trưng cầu giám định (bên trong là 0,207 gam ma túy Heroine còn lại sau giám định).
- - Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Dream, biển kiểm soát 98H1 - 0806, xe không có gương chiếu hậu, xe cũ đã qua sử dụng, trong cốp xe không có đồ vật tài sản gì.
- - Trả lại bị cáo: 01(một) điện thoại di động màn hình cảm ứng tại phía dưới màn hình bên phải bị nứt vỡ, mặt sau có chữ VIVO, mật khẩu màn hình: 1996, có số Imei 1: 861711041316894, Imei 2: 861711041316886, kèm theo 01 (một) sim, điện thoại cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy và 01 (một) điện thoại di động Masstel có vỏ màu đen, có số Imei 1: 352766246949960, số Imei 2: 352766246949978, kèm theo 01 (một) sim, điện thoại cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy (được niêm phong trong 01 phong bì có ký hiệu "Điện thoại" có dấu niêm phong của Cơ quan CSĐT Công an huyện Y, chữ ký cùng tên của thành phần tham gia niêm phong); số tiền 515.000 đồng (năm trăm mười lăm nghìn đồng) tiền ngân hàng N1.
-
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nông Đức T.
-
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Lê Hồng Thảo |
Bản án số 57/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 57/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồi 13 giờ 20 phút ngày 07/8/2024, tại khu vực trước cửa quán của anh Lưu Đức Q, sinh năm 1989, thuộc bản T, xã Đ, huyện Y, tổ công tác Công an huyện Y phối hợp với Công an xã Đ bắt quả tang Nông Đức T, sinh năm 1996 ở bản L, xã Đ, huyện Y đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,295 gam ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng.
