TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 57/2024/DS-ST Ngày: 19-11 - 2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Hồng Mỹ
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Phạm Hoà
- Bà Huỳnh Thị Mỹ Lễ
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Lệ Quân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên toà: Ông Lê Trung Hiếu- Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 52/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 147/2024/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 177/2024/QĐST-DS ngày 29 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty CP D
Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phùng Anh T – Chủ tịch Hội đồng quản trị; (bên thế quyền từ Ngân Hàng TMCP Phát triển Thành phố H)
Người đại diện theo uỷ quyền: Ngân Hàng TMCP Phát triển Thành phố H (H2); Địa chỉ: B B N, Phường B, Quận A, TP .; theo hợp đồng ủy quyền số 267.03/2024/HDUQ/HDB-HNV ngày 29/3/2024;
Người đại diện theo pháp luật của H2: Ông Phạm Quốc T1 – Tổng Giám đốc H2
Người đại diện theo ủy quyền của H2: Bà Huỳnh Nguyễn Bảo H - Giám Đốc Trung tâm Xử lý nợ kiêm Trưởng Phòng Xử lý nợ - Trung tâm Xử lý nợ H2; theo Quyết định ủy quyền số: 2992/2021/QĐ-TGĐ ngày 31/12/2021 của Tổng Giám đốc H2;
Người đại diện tham gia tố tụng: Ông Đặng Huy B– Phó Giám đốc phụ trách Phòng giao dịch thị xã Đ; Địa chỉ: Phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; theo Giấy ủy quyền số: 89/2024/UQ-HDB ngày 04/5/2024;
Bị đơn:
- Ông Trịnh Ngọc Đ, sinh năm 1972
- Bà Đặng Thị Mỹ H1, sinh năm 1979
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố T, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Trịnh Ngọc T2, sinh năm 1946
Địa chỉ: Thôn Q, xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định.
Người đại diện của nguyên đơn có mặt; bị đơn vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 15/3/2024, đơn khởi kiện bổ sung ngày 04/5/2024 và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty CP D (bên thế quyền từ Ngân hàng TMCP P) do ông Đặng Huy B trình bày:
Công ty CP D là bên mua lại khoản nợ từ Ngân hàng TMCP P, đối với khoản nợ của khách hàng ông Trịnh Ngọc Đ, bà Đặng Thị Mỹ H1 theo Hợp đồng mua bán nợ số 267.03/2024/HĐMBN/HDB-HNV ngày 29/3/2024 được ký kết giữa Công ty CP D và Ngân hàng TMCP P. Khoản nợ mà vợ chồng ông Trịnh Ngọc Đ và bà Đặng Thị Mỹ H1 còn nợ Ngân Hàng TMCP Phát triển Thành phố H theo 04 hợp đồng tín dụng đã ký kết, cụ thể:
Hợp đồng tín dụng số: 27371/21MB/HĐTD ngày 25/11/2021, giấy đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số 27371/21MB/HĐTD/KUNN01 ngày 26/11/2021, số tiền vay 500.000.000 đồng, thời hạn vay 84 tháng, lãi 11%/năm;
Hợp đồng tín dụng số: 28656/22MB/HĐTD ngày 01/11/2022, giấy đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số 28656/22MB/HĐTD/KUNN01 ngày 01/11/2022, số tiền vay 1,5 tỷ đồng, thời hạn vay 12 tháng, lãi 11,9%/năm;
Hợp đồng tín dụng số 28683/22MB/HĐTD ngày 10/11/2022, giấy đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ ngày 18/11/2022 và ngày 07/12/2022, số tiền vay 300.000.000đồng, thời hạn vay 12 tháng, 14%/năm;
Hợp đồng tín dụng số 13766/23MB/HĐTD ngày 05/10/2023, giấy đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số 13766/23MB/HĐTD/KUNN01 ngày 10/10/2023, số tiền vay 450.000.000 đồng, thời hạn vay 120 tháng, 12,7%/năm; mục đích vay mua bán thuỷ hải sản và phục vụ tiêu dùng; biện pháp bảo đảm nghĩa vụ trả nợ của vợ chồng ông Đ, bà H1 là quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản trên đất tại thửa đất số 307, tờ bản đồ số 15, thôn Q, xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định. Tổng giá trị khoản nợ tính đến nay là 3.062.602.195 đồng, trong đó số tiền gốc là 2.605.241.381 đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 18/11/2024 là 457.360.814 đồng.
Nay Công ty CP D yêu cầu vợ chồng ông Trịnh Ngọc Đ và bà Đặng Thị Mỹ H1 phải trả toàn bộ tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 18/11/2024 là 3.062.602.195 đồng và khoản tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng và các giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ đã ký kết với Ngân hàng H2 từ ngày 19/11/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ nêu trên cho Công ty CP D.
Trường hợp ông Trịnh Ngọc Đ và bà Đặng Thị Mỹ H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Công ty CP D, Công ty được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 307, tờ bản đồ số 15, thôn Q, xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 21825/21MB/HĐBĐ ngày 13/10/2021 và các hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng: số 21825/21MB/HĐBĐ/PL01 ngày 25/11/2021 và số 21825/21MB/HĐBĐ/PL03 ngày 05/10/2023, theo diện tích đo đạc thực tế là 557,1m².
Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản đảm bảo được dùng để cấn trừ nghĩa vụ trả nợ của ông Trịnh Ngọc Đ và bà Đặng Thị Mỹ H1 đối với Công ty CP D. Nếu số tiền phát mãi tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết các khoản nợ, ông Trịnh Ngọc Đ và bà Đặng Thị Mỹ H1 phải có nghĩa vụ trả cho Công ty CP D cho đến khi xong nợ.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Trịnh Ngọc Đ trình bày:
Năm 2021 vợ chồng ông có vay tiền của Ngân Hàng TMCP Phát triển Thành phố H (H2) với số tiền khoảng 2,6 tỷ đồng. Khi vay có thế chấp nhà và đất tại thửa đất số 307, tờ bản đồ số 15, thôn Q, xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định. Do làm ăn thua lỗ nên chưa trả gốc và lãi cho ngân hàng. Ông thừa nhận lời trình bày của bên thế quyền từ Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H - Công ty CP D- về khoản nợ của vợ chồng ông với Ngân Hàng TMCP Phát triển Thành phố H là đúng. Nay Công ty CP D yêu cầu trả nợ, vợ chồng ông đồng ý trả số tiền tính đến ngày 18/9/2024 là 2.984.611.184 đồng trong đó nợ gốc là 2.605.241.381đồng, nợ lãi trong hạn là 73.079.706 đồng, nợ lãi quá hạn là 306.290.097 đồng. Vợ chồng ông tiếp tục thanh toán phần nợ lãi phát sinh đối với số nợ còn lại theo mức lãi suất thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng và các giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ đã ký kết với H2 từ ngày 18/9/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ cho Công ty CP D.
Trường hợp vợ chồng ông không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Công ty CP D, ông đồng ý để Công ty CP D phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 307, tờ bản đồ số 15, thôn Q, xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định. Nếu số tiền phát mãi tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết các khoản nợ, vợ chồng ông tiếp tục trả hết khoản nợ cho Công ty CP D.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Đặng Thị Mỹ H1 đã nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trịnh Ngọc T2 trình bày:
Vợ chồng ông có thửa đất số 307, tờ bản đồ số 15, thôn Q, xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định. Năm 2017 gia đình có thống nhất cho con trai ông là Trịnh Ngọc Đ. Hiện tại ông Đ có thế chấp thửa đất cho ngân hàng H3 để vay tiền làm ăn. Trường hợp không trả được nợ phải xử lý nhà và đất tại thửa đất 307 để thu hồi nợ, ông đồng ý.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự.
Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng. Bị đơn ông Trịnh Ngọc Đ, bà Đặng Thị Mỹ H1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 72, 73 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 317, 318, 319, 365, 463, 466 Bộ luật dân sự; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông Trịnh Ngọc Đ, bà Đặng Thị Mỹ H1 phải trả cho bên thế quyền của Ngân hàng TMCP P là Công ty CP D 3.062.602.195 đồng và khoản tiền lãi phát sinh, trường hợp ông Đ, bà H1 không trả được nợ, Công ty CP D được quyền xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại đất số 307, tờ bản đồ số 15, thôn Q, xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định, theo diện tích đo đạc thực tế 557,1m².
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn bên thế quyền của Ngân hàng TMCP P là Công ty CP D có đơn khởi kiện tranh chấp đòi nợ vay từ hợp đồng tín dụng với bị đơn ông Trịnh Ngọc Đ, bà Đặng Thị Mỹ H1 ở tổ dân phố T, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi nên căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
[2] Về tố tụng:
Bị đơn ông Trịnh Ngọc Đ, bà Đặng Thị Mỹ H1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trịnh Ngọc T2 vắng mặt nhưng đã có đơn xin giải quyết vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông Đ, bà H1 và ông T2.
[3] Về nội dung:
Ngày 22/3/2024 Ngân hàng TMCP P (H2) khởi kiện đòi ông Trịnh Ngọc Đ, bà Đặng Thị Mỹ H1 phải trả nợ vay cho ngân hàng theo 4 hợp đồng tín dụng mà ông Đ, bà H1 đã ký kết với Ngân hàng TMCP P, cụ thể: Hợp đồng tín dụng số: 27371/21MB/HĐTD ngày 25/11/2021, số tiền vay 500.000.000 đồng, thời hạn vay 84 tháng; Hợp đồng tín dụng số: 28656/22MB/HĐTD ngày 01/11/2022, số tiền vay 1,5 tỷ đồng, thời hạn vay 12 tháng; Hợp đồng tín dụng số: 28683/22MB/HĐTD ngày 10/11/2022, số tiền vay 300.000.000đồng, thời hạn vay 12 tháng; Hợp đồng tín dụng số: 13766/23MB/HĐTD ngày 05/10/2023, số tiền vay 450.000.000 đồng, thời hạn vay 120 tháng, tổng cộng ông Đ, bà H1 đã vay của ngân hàng H2 2.750.000.000 đồng. Do ông Đ, bà H1 không thực hiện theo cam kết, không trả nợ nên ngân hàng đã khởi kiện đòi vợ chồng ông Đ, bà H1 phải trả nợ vay.
Ngày 29/3/2024 Ngân hàng TMCP P đã bán lại khoản nợ của ông Đ, bà H1 cho Công ty CP D theo Hợp đồng mua bán nợ số 267.03/2024/HĐMBN/HDB-HNV được ký kết giữa Công ty CP D và Ngân hàng TMCP P.
Tại Điều 7 của hợp đồng tín dụng thể hiện ngân hàng TMCP P được quyền chuyển nhượng, bán lại khoản nợ cho bên thứ ba mà không cần sự chấp nhận của bà H1, ông Đ nên việc ngân hàng đã bán nợ là phù hợp với thỏa thuận của hai bên và đúng quy định của pháp luật.
Do Công ty CP D là bên thế quyền của ngân hàng H2 nên Công ty CP D có quyền yêu cầu ông Trịnh Ngọc Đ, bà Đặng Thị Mỹ H1 phải thực hiện nghĩa vụ trả các khoản nợ vay từ ngân hàng H2 theo quy định tại Điều 365 Bộ luật dân sự.
Xét yêu cầu của bên thế quyền từ ngân hàng H2- Công ty CP D- về việc yêu cầu bị đơn ông Đ, bà H1 phải trả nợ vay, Hội đồng xét xử xử xét thấy, hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng H2 với ông Đ, bà H1 đảm bảo về nội dung và hình thức theo quy định của pháp luật. Sau khi được giải ngân 2.750.000.000 đồng, phía bà H1, ông Đ không trả gốc, lãi trong nhiều kỳ, tính đến nay số nợ mà bà H1, ông Đ còn nợ theo các hợp đồng tín dụng đã ký với ngân hàng H2 là 3.062.602.195 đồng, trong đó nợ gốc 2.605.241.381 đồng, nợ lãi trong hạn là 88.990.177 đồng, lãi quá hạn là 368.370.637 đồng.
Về phía ông Đ thừa nhận lời trình bày của Công ty CP D về các khoản nợ vay giữa vợ chồng ông với ngân hàng H2 là đúng và đồng ý trả nợ cho Công ty CP D. Trường hợp không trả được nợ thì ông đồng ý xử lý tài sản đã thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 307, tờ bản đồ số 15, thôn Q, xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định cho công ty.
Bị đơn bà Đặng Thị Mỹ H1 là người cùng với ông Trịnh Ngọc Đ trực tiếp ký các hợp đồng tín dụng, đã được Tòa án thông báo về việc khởi kiện nhưng bà không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu của Công ty CP D–bên thế quyền của ngân hàng. Về phía người liên quan ông Trịnh Ngọc T2 cũng không có ý kiến tranh chấp đối với yêu cầu của ngân hàng, cũng như của bên thế quyền Công ty CP D.
Do đó Công ty CP D yêu cầu bên ông Trịnh Ngọc Đ, bà Đặng Thị Mỹ H1 phải trả nợ vay với số tiền 3.062.602.195 đồng, trong đó nợ gốc 2.605.241.381 đồng, nợ lãi trong hạn là 88.990.177 đồng, lãi quá hạn là 368.370.637 đồng và khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 19/11/2024 là có cơ sở theo quy định tại Điều 365, 466, 470 Bộ luật dân sự, Điều 91, 95 Luật tổ chức tín dụng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: Hội đồng xét xử xét thấy, theo Hợp đồng thế chấp số: 21825/21MB/HĐBĐ ngày 13/10/2021, thể hiện giữa ngân hàng TMCP P và bị đơn ông Trịnh Ngọc Đ, bà Đặng Thị Mỹ H1 có ký hợp đồng thế chấp, theo hợp đồng ông Đ, bà H1 đã thế chấp cho ngân hàng quyền sử dụng đất tại thửa đất số 307, tờ bản đồ số 15, thôn Q, xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định, hợp đồng thế chấp đã được đăng ký tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B – CN Thị xã H ngày 13/10/2021, do vậy hợp đồng thế chấp là hoàn toàn hợp pháp. Diện tích thửa đất đo đạc thực tế 557,1m², diện tích sử dụng ổn định, các hộ liền kề không tranh chấp. Tài sản trên đất là nhà của ông Trịnh Ngọc Đ. Trên thửa đất hiện có ông Trịnh Ngọc T2 là cha của ông Đ đang ở, ông T2 cho biết nhà đất đã cho ông Đ nên việc ông Đ sử dụng nhà để thế chấp ngân hàng, ông không tranh chấp và ông thống nhất xử lý nhà đất khi ông Đ, bà H1 không trả được nợ. Do vậy việc bên thế quyền của ngân hàng là Công ty CP D, yêu cầu xử lý tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất 307, tờ bản đồ số 15, thôn Q, xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định theo hiện trạng thực tế 557,1 m² là phù hợp theo quy định tại Điều 318, 320, 323 Bộ luật dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc là 11.000.000 đồng, ông Trịnh Ngọc Đ, bà Đặng Thị Mỹ H1 không được chấp nhận yêu cầu nên phải chịu chi phí này, ngân hàng TMCP P đã nộp tạm ứng nên ông Đ, bà H1 phải hoàn trả cho bên thế quyền của ngân hàng là Công ty CP D số tiền này.
[5] Về án phí: Căn cứ theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông Trịnh Ngọc Đ, bà Đặng Thị Mỹ H1 phải chịu 93.252.000 đồng án phí dân sự.
[6] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 318, 320, 365, 463, 466 và 470 Bộ luật dân sự;
- Căn cứ Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của Công ty CP D–bên thế quyền từ Ngân hàng TMCP P, buộc bị đơn ông Trịnh Ngọc Đ, bà Đặng Thị Mỹ H1 phải trả cho Công ty CP D 3.062.602.195 đồng (ba tỉ không trăm sáu mươi hai triệu sáu trăm lẻ hai nghìn một trăm chín mươi lăm đồng), trong đó số tiền gốc là 2.605.241.381 đồng, tiền lãi tính đến 18/11/2024 là 457.360.814 đồng.
Kể từ ngày 19/11/2024 ông Trịnh Ngọc Đ, bà Đặng Thị Mỹ H1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh theo các hợp đồng tín dụng mà bà H1, ông Đ đã ký kết với ngân hàng H2 cho đến khi thanh toán xong nợ.
Trường hợp ông Trịnh Ngọc Đ, bà Đặng Thị Mỹ H1 không thanh toán được nợ, Công ty CP D được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của ông Đ, bà H1 tại thửa đất 307, tờ bản đồ số 15, thôn Q, xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định, diện tích đo đạc thực tế là 557,1m² (có sơ đồ bản vẽ kèm theo bản án).
Sau khi xử lý tài sản thế chấp mà không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì ông Trịnh Ngọc Đ, bà Đặng Thị Mỹ H1 phải tiếp tục trả cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
2. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc là 11.000.000 đồng, ông Trịnh Ngọc Đ, bà Đặng Thị Mỹ H1 không được chấp nhận yêu cầu nên phải chịu chi phí này, ngân hàng TMCP P đã nộp tạm ứng nên ông Đ, bà H1 phải hoàn trả cho Công ty CP D -bên thế quyền của ngân hàng, 11.000.000 đồng (mười một triệu đồng) tiền chi phí tố tụng.
3. Về án phí: Ông Trịnh Ngọc Đ, bà Đặng Thị Mỹ H1 phải chịu 93.252.000 đồng (chín mươi ba triệu hai trăm năm mươi hai nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho Công ty CP D-bên thế quyền của Ngân hàng TMCP P 43.442.000 đồng tiền tạm ứng án phí ngân hàng H2 đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001816 ngày 10 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
Nguyên đơn Công ty CP D được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn ông Trịnh Ngọc Đ, bà Đặng Thị Mỹ H1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trịnh Ngọc T2 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đoàn Thị Hồng Mỹ |
Bản án số 57/2024/DS-ST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 57/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của công ty, bên thế quyền của ngân hàng, buộc vợ chồng ông Đ, bà H1 phải trả cho công ty khoản nợ vay của ngân hàng
