|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 57/2024/HS-ST Ngày 13-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Tuấn Tú.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Xuân Tuyến.
2. Bà Triệu Thị Yên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Văn Quyết, Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang;
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
tham gia phiên tòa: Ông Ma Văn Tùng, Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa,
tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:
56/2024/TLST - HS ngày 24 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số: 55/2024/QĐXXST - HS ngày 30 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Hoàng Văn K, sinh ngày 01/9/1983, tại huyện C, tỉnh Tuyên Quang; nơi
thường trú: Thôn B, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; nơi tạm trú: Thôn T, xã
P, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn:
Lớp 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;
con ông Hoàng Khắc T, sinh năm 1957 và bà Hà Thị Đ, sinh năm 1956 (Đã
chết); vợ: Đỗ Thị V, sinh năm 1987; con: Có 01 con, sinh năm 2012; tiền án,
tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi
cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại:
- - Đỗ Trường G, sinh năm 1990. Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên
- Quang (đã chết).
- - Từ Duy H, sinh năm 1996. Thôn A, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang (đã
- chết).
* Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- - Chị Chúc Thị C, sinh năm 1998. Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện C, tỉnh
- Tuyên Quang. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- - Chị Nông Thị N, sinh năm 1994. Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện C, tỉnh
Tuyên Quang. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 14/5/2024, Hoàng Văn K - trú tại thôn B, xã Y, huyện C, tỉnh
Tuyên Quang (tạm trú tại thôn T, xã P, huyện C, tỉnh Tuyên Quang - Kiến có
giấy phép lái xe theo quy định) đỗ xe ô tô tải biển số 98C-022.24, nhãn hiệu
KIA K3000S, loại xe thùng kín (xe của K) tại bên cạnh đường Q (phía bên phải
đường, hướng Thị trấn V - đi xã H) thuộc thôn T, xã P, huyện C; xe đỗ cách
Quốc lộ C khoảng 7m (đầu xe quay về phía vườn cây giống của gia đình K, đuôi
xe quay về phía đường Q). Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 15/5/2024, K đi ra chỗ
đỗ xe để điều khiển đi sang bên trái đường cất tránh mưa. Tuy nhiên trong quá
trình lùi xe ra lòng đường Quốc lộ 3B để đi sang bên trái đường, K chỉ bật đèn
cảnh báo và quan sát các phương tiện tham gia giao thông đến từ bên trái (hướng
đi thị trấn V), còn các phương tiện tham gia giao thông đi đến từ bên phải
(hướng từ thị trấn V đi xuống) Kiến không quan sát (Vi phạm Điều 16 Luật giao
thông đường bộ). Tại thời điểm đó có xe mô tô biển số 22N1-074.86, nhãn hiệu
HONDA, loại xe Wave Alpha do Đỗ Trường G, sinh năm 1990 - trú tại thôn A,
xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang điều khiển, chở theo Từ Duy H, sinh năm
1996 trú cùng thôn đang đi trên phần đường bên phải (theo hướng thị trấn V, đi
xã H) đang đi đến gần, nhưng do K không quan sát nên vẫn điều khiển xe ô tô
lùi ra lòng đường Quốc lộ 3B khoảng 01m (đuôi xe chếch chéo so với Quốc lộ C
về hướng đi thị trấn V, đầu xe quay chếch chéo vào lề đường bên phải) lấn
chiếm phần đường (theo chiều đi của G) dẫn đến phần đầu xe mô tô do G điều
khiển đâm vào đuôi xe bên trái của xe ô tô do K điều khiển. Hậu quả Đỗ Trường
G và Từ Duy H bị ngã văng ra mặt đường. Sau khi nghe thấy tiếng va chạm,
Kiến đạp phanh xe dừng lại, xuống xe kiểm tra và đưa Đỗ Trường G, Từ Duy H
đi cấp cứu. Do chấn thương nặng, anh Đỗ Trường G và anh Từ Duy H chết
trong quá trình cấp cứu tại Trung tâm Y tế huyện C, xe ô tô và xe mô tô bị hư
hỏng nhẹ.
Quá trình khám nghiệm hiện trường xác định: Vị trí xảy ra tai nạn là Km
245+570, Quốc lộ C, thuộc địa phận thôn T, xã P, huyện C, tỉnh Tuyên Quang.
Mặt đường trải nhựa rộng 5,90 m, đường thông thoáng, giữa đường có vạch sơn
chia phần đường đứt quãng màu vàng. Tại vị trí xảy ra tai nạn không có biển báo
hiệu giao thông ở hai đầu đoạn đường. Quá trình khám nghiệm xác định vị trí va
chạm đầu tiên giữa xe mô tô do G điều khiển với xe ô tô do K điều khiển là tại
phía sau điểm cuối vết mài trượt mặt đường bám tạp chất màu đen tại vị trí số 1
(một).
Tại Kết luận giám định mô bệnh học (vi thể) số: 716/KLMBH-KTHS
ngày 30/5/2024, của Phòng K1, Công an tỉnh T, đối với mẫu mô da vết thương
vùng đầu của tử thi Đỗ Trường G, kết luận: Tổ chức dưới da (mô liên kết) chảy
máu, có chỗ hồng cầu đông vón thành đám.
- Tại Kết luận giám định mô bệnh học (vi thể) số: 717/KLMBH-KTHS
ngày 30/5/2024, của Phòng K1, Công an tỉnh T, đối với mẫu mô da vết thương
vùng đầu của tử thi Từ Duy H, kết luận: Tổ chức dưới da (mô liên kết) chảy
máu, có chỗ hồng cầu đông vón thành đám.
- Tại Kết luận giám định tử thi số: 684/KL-KTHS, ngày 30/5/2024, của
Phòng K1, Công an tỉnh T, kết luận: Nguyên nhân chết của Đỗ Trường G là mất
máu cấp do chấn thương ngực, bụng kín, vỡ gan.
- Tại Kết luận giám định tử thi số: 685/KL-KTHS, ngày 30/5/2024, của
Phòng K1, Công an tỉnh T, kết luận: Nguyên nhân chết của Từ Duy H là do chấn
thương sọ não.
- Tại Kết luận giám định số: 756/KL-KTHS ngày 25/6/2024, của Phòng
K1, Công an tỉnh T, đối với dấu vết cơ học trong vụ tai nạn giao thông, kết luận:
- + Xe mô tô biển số 22N1-074.86 có va chạm với xe ô tô biển số 98C-
- 022.24. Vị trí va chạm đầu tiên trên hiện trường giữa 02 phương tiện là tại phía
- sau điểm cuối vết mài trượt mặt đường bám tạp chất màu đen (Vị trí số 01 theo
- Biên bản khám nghiệm hiện trường) và thuộc làn đường bên phải theo hướng thị
- trấn V đi xã H là phù hợp. Vết trượt miết kim loại tại mặt trước tay phanh; vùng
- trượt miết nhựa, mất sơn tại phần nhựa ốp mặt trước đầu xe bên phải; vết trượt
- rách đệm cao su và đầu kim loại đầu tay nắm bên phải của xe mô tô biển số
- 22N1-074.86 (Ảnh 9 trong Bản ảnh giám định) hình thành do va chạm với vết
- trượt miết sơn, bám dính tạp chất màu đen tại mặt ngoài khung kim loại tương
- ứng vị trí cụm đèn sau bên trái và vùng bong tróc ma tít tại mặt sau khung kim
- loại tương ứng vị trí vết trượt miết màu đen của xe ô tô biển số 98C-022.24
- (Ảnh 10 trong Bản ảnh giám định) là phù hợp.
- + Không đủ căn cứ xác định tại thời điểm xảy ra va chạm phương tiện nào
- chuyển động nhanh hơn.
- Tại Kết luận giám định số 713/KL-KTHS ngày 26/6/2024 của Phòng
K1, Công an tỉnh T đối với 02 (hai) tệp tin video được thu giữ liên quan đến tai
nạn giao thông, kết luận:
- + Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong các tệp tin
- video gửi giám định ký hiệu A1, A2.
- + Đặc điểm người, phương tiện; nội dung, diễn biến sự việc trong tệp tin
- video gửi giám định ký hiệu A1, trong khoảng thời gian từ 20 giờ 28 phút 15
- giây đến 20 giờ 28 phút 22 giây ngày 15/5/2024 (theo thời gian hiển thị trên
- video) được mô tả chi tiết trong bản ảnh giám định kèm theo.
- + Không đủ cơ sở xác định vận tốc của phương tiện liên quan đến vụ việc
- trong tệp tin video gửi giám định ký hiệu A2.
- Tại Kết luận giám định số: 3693/KL-KTHS ngày 03/6/2024 của V1, Bộ
C1, kết luận:
- + Dấu vết màu nâu đỏ ghi thu tại vị trí số 4 trên hiện trường (Ký hiệu A1)
- máu người và là máu của Từ Duy H.
- + Dấu vết màu nâu đỏ ghi thu tại vị trí số 6 trên hiện trường (Ký hiệu A2)
- máu người và là máu của Đỗ Trường G
- + Mẫu ghi tổ chức cơ thể thu tại thanh cọc đứng thùng phía sau bên trái
- của xe ô tô tải biển số 98C-022.24 (Ký hiệu A3) gửi giám định có bám dính máu
- người và là máu của tử thi Đỗ Trường G.
- Tại Kết luận giám định số: 3656/KL-KTHS ngày 14/6/2024 của V1, Bộ
C1, kết luận: Chất màu trắng thu tại vị trí số 2 trên hiện trường (ký hiệu A) gửi
giám định là sơn, cùng loại với sơn màu trắng thu tại thanh cọc đứng thùng phía
sau bên trái xe ô tô tải biển số 98C-022.24 (ký hiệu M) gửi làm mẫu so sánh.
- Tại Phiếu đo nồng độ cồn số 07414, hồi 21 giờ 32 phút ngày 15/5/2024
đối với Hoàng Văn K, kết quả: 0,000 mg/L - không có nồng độ cồn trong hơi
thở của Hoàng Văn K;
- Tại Biên bản xét nghiệm tìm chất ma túy lập ngày 15/5/2024, của Công
an huyện C, đối với Hoàng Văn K, kết quả: Âm tính - không có chất ma túy
trong cơ thể của Hoàng Văn K.
Tại bản Cáo trạng số: 59/CT-VKSCH ngày 24/10/2024, Viện kiểm sát nhân
dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang truy tố Hoàng Văn K về tội “Vi phạm
quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm đ khoản 2
Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh
Tuyên Quang giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Hoàng Văn K theo
tội danh đã nêu trong cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn K phạm tội “Vi phạm quy định về
tham gia giao thông đường bộ”.
Về hình phạt chính: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 260; các điểm b, s
khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo
Hoàng Văn K ở mức khởi điểm của khung hình phạt và cho hưởng án treo, ấn
định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật, thời hạn thử thách tính từ
ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân nơi cư trú để giám sát,
giáo dục trong thời gian thử thách.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần thiết, đề nghị hội đồng xét xử
không áp dụng đối với bị cáo do bị cáo phạm tội bởi lỗi vô ý.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Hoàng Văn K đã thỏa thuận bồi thường
xong cho gia đình mỗi bị hại số tiền 150.000.000 đồng. Đại diện gia đình các bị
hại không yêu cầu gì thêm về phần dân sự và có đơn đề nghị xin giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự cho bị cáo nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Về tài liệu, đồ vật thu giữ: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra
Công an huyện C đã tạm giữ: 01 xe ô tô tải biển số đăng ký 98C-022.24 và kèm
theo giấy chứng nhận đăng ký, đăng kiểm và chứng nhận bảo hiểm và 01 giấy
phép lái xe ô tô hạng D, số [...] của Hoàng Văn K; 01 xe mô tô biển
số đăng ký 22N1-074.86; Giấy phép lái xe mô tô hạng A1, số [...]
mang tên Từ Duy H; Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 22000366; Giấy
chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS; 01 giấy phép lái xe mô tô của Đỗ Trường
G số AG318074. Ngày 05/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C
đã trả lại các vật chứng nêu trên cho chủ sở hữu và đại diện người bị hại nên
không đề nghị xem xét.
Đối với 01 giấy phép lái xe hạng D mang tên Hoàng Văn K không phải là
vật chứng của vụ án nên cần trả lại cho bị cáo.
Đề nghị hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và
tuyên quyền kháng cáo bản án của người tham gia tố tụng theo quy định.
Tại phiên toà, bị cáo xác định khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 15/5/2024, bị
cáo đã có điều khiển xe ô tô tải biển số 98C -022.24 lùi ra đường Q. Quá trình
lùi xe do bị cáo không chú ý quan sát phía sau gây tai nạn đối với xe mô tô biển
số 22N1-074.86 do Đỗ Trường G điều khiển chở theo Từ Duy H, đang đi trên
phần đường bên phải (theo hướng thị trấn V, đi xã H). Hậu quả Đỗ Trường G
(mất máu cấp do chấn thương ngực, bụng kín, vỡ gan) và anh Từ Duy H (chấn
thương sọ não) sau tai nạn dẫn đến chết. Bị cáo nhất trí với nội dung luận tội của
Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, không có ý kiến
khác và đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình
phạt áp dụng với bị cáo để bị cáo được cải tạo tại địa phương.
Trong quá trình điều tra và tại đơn xin xét xử vắng mặt người đại diện hợp
pháp của các bị hại là chị Hà Thị N1 và chị Chúc Thị C xác định hai bên đã thỏa
thuận bồi thường xong cho mỗi gia đình bị hại 150.000.000 đồng. Đại diện gia
đình các bị hại cũng không yêu cầu gì thêm về phần dân sự và có đơn xin giảm
nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều
tra Công an huyện C, Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm
Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố; của Kiểm sát viên tại phiên
tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố
tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của
bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của
Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, phù
hợp theo quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ
hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra.
Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng biên bản khám nghiệm
hiện trường, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 15/5/2024, tại Km 245+570, đường Q (thuộc
thôn T, xã P, huyện C, tỉnh Tuyên Quang), Hoàng Văn K đã có hành vi điều
khiển xe ô tô tải biển số 98C -022.24 lùi ra đường Q. Quá trình lùi xe do K
không chú ý quan sát phía sau (vi phạm Điều 16 Luật giao thông đường bộ) gây
tai nạn đối với xe mô tô biển số 22N1-074.86 do Đỗ Trường G, sinh năm 1990 -
trú tại thôn A, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang điều khiển chở theo Từ Duy H,
sinh năm 1996 trú cùng thôn đang đi trên phần đường bên phải (theo hướng thị
trấn V, đi xã H). Hậu quả Đỗ Trường G bị (mất máu cấp do chấn thương ngực,
bụng kín, vỡ gan) và Từ Duy H bị (chấn thương sọ não) sau tai nạn đã chết.
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia
giao thông đường bộ” theo điểm đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trước Cơ quan điều tra và tại
phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi xảy ra tai nạn
đã chủ động, tự nguyện thỏa thuận và bồi thường thiệt hại cho gia đình các bị
hại; trong giai đoạn điều tra người đại diện hợp pháp của các bị hại có “đơn xin
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự”, ngoài ra bị hại cũng có một phần lỗi do điều
khiển xe mô tô không chú ý quan sát. Vì vậy, bị cáo được được hưởng các tình
tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2
Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực
tiếp xâm phạm các quy định của Nhà nước về giao thông đường bộ, an toàn
công cộng, trật tự công cộng, an toàn về tính mạng, sức khỏe của công dân, do
đó việc xử lý về hình sự đối với bị cáo là cần thiết, đảm bảo tính răn đe, thể hiện
tính nghiêm minh của pháp luật. Vì vậy, cần buộc bị cáo phải chịu mức hình
phạt phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra để cải tạo, giáo dục bị cáo
đồng thời răn đe phòng chống tội phạm chung.
Tuy nhiên, trong vụ án này bị hại cũng có một phần lỗi do tham gia giao
thông không chú ý quan sát, về phía bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục
toàn bộ hậu quả cho gia đình các bị hại và đại diện các bị hại đã có đơn xin giảm
nhẹ hình phạt cho bị cáo, xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự, phạm tội thuộc thuộc trường hợp do lỗi vô ý, bị cáo có nơi cư trú rõ
ràng, người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho hưởng án treo không
nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Bị cáo có đủ căn cứ để được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện theo quy
định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày
15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết số
01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định cho bị cáo được hưởng án treo đồng
thời ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 65
của Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[5] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định
người phạm tội có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm
công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Xét thấy công việc lái xe là nghề
nghiệp kiếm sống chính của bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm
hành nghề lái xe đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Tại giai đoạn điều tra, bị cáo và gia đình các bị hại đã tự thỏa thuận bồi
thường thiệt hại cho mỗi gia đình bị hại số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm
năm mươi triệu), tại đơn xin xét xử vắng mặt người đại diện hợp pháp của bị hại
không đề nghị bị cáo bồi thường gì thêm. Bị cáo đã thực hiện xong toàn bộ
nghĩa vụ dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về xử lý tài liệu, đồ vật thu giữ:
Xét thấy việc xử lý vật chứng, tài sản và tài liệu của cơ quan cảnh sát
điều tra Công an huyện C là đúng quy định, bị cáo, người đại diện hợp pháp của
các bị hại không có đề nghị khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 giấy phép lái xe ô tô hạng D, số [...] mang tên Hoàng
Văn K. Hội đồng xét xử xét thấy đây là giấy tờ của bị cáo, không phải là vật
chứng của vụ án nên cần trả lại giấy phép lái xe cho bị cáo.
[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm;
bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy
định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia
giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1
và khoản 2 Điều 51; Điều 38, 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng
Văn K, 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo, thử thách 05 (năm) năm, thời hạn thử
thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 13/11/2024.
Giao bị cáo Hoàng Văn K cho Ủy ban nhân dân xã P, C, tỉnh Tuyên Quang
để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; trường hợp thay đổi nơi cư trú
thì thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời
gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy
định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định
buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật
Tố tụng hình sự.
Trả lại cho bị cáo: 01 giấy phép lái xe ô tô hạng D, số [...] mang
tên Hoàng Văn K.
4. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí
Tòa án.
Bị cáo Hoàng Văn K phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố
tụng hình sự. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời
hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người đại diện hợp pháp của các bị
hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể
từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Tuấn Tú |
Bản án số 57/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 57/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Hoàng Văn Kiến
