Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2024/HS-PT

Ngày: 07/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Mến

Ông Huỳnh Đắc Đương

- Thư ký phiên tòa: Bà Kim Thị Ngà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai thụ lý số: 72/2024/HSPT, ngày 08 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo Phạm Văn H, Kiên Hữu P, Hồng T Khoa do có kháng cáo của các bị cáo Phạm Văn H, Kiên Hữu P, Hồng T Khoa đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 77/2024/HSST ngày 23/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Phạm Văn H, sinh ngày 25/3/2003, tại huyện D, tỉnh Trà Vinh; Nơi thường trú và nơi ở hiện nay: Ấp Đ, xã N, huyện D, tỉnh Trà Vinh. Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn C, sinh năm 1977 và bà Hà Thị C1, sinh năm 1973; sống như vợ chồng với D Thạch Thị Bé H1, sinh năm 2006 (chưa đăng ký kết hôn); có 01 người con; tiền án: Không, tiền sự: Không; Bị khởi tố vào ngày 21/4/2024 và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, bị cáo có mặt.

  2. Kiên Hữu P (Tô), sinh ngày 01/12/2004, tại huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi thường trú và nơi ở hiện nay: Khóm G, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; Dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kiên Sa Mon T1, sinh năm 1974 và bà Trần Thị Thu X, sinh năm 1978; tiền án: Không, tiền sự: Không; Bị khởi tố vào ngày 21/4/2024 và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, bị cáo có mặt.

  3. Hồng Tuấn K, sinh ngày 25/4/2005, tại huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi thường trú và nơi ở hiện nay: Ấp G, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; Dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồng Văn T2, sinh năm 1972 và bà Tăng Thị Q, sinh năm 1975; tiền án: Không, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2022, bị UBND huyện T xử phạt 2.000.000 đồng về hành hành vi mang theo trong người vũ khí thô sơ nhằm mục đích cố ý gây thương tích cho người khác; Bị khởi tố vào ngày 21/4/2024 và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, bị cáo có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có bị hại nhưng do không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, không có kháng nghị nên không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ ngày 04/02/2024, bị cáo Kiên Hữu P tổ chức uống rượu tại nhà của mình thuộc khóm G, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh, bị cáo Phạm Văn H, bị cáo Hồng Tuấn K, anh Nguyễn Minh Đ, anh Thạch Văn K1 và anh Trầm Khánh D1. Đến khoảng 21 giờ 20 phút cùng ngày thì hết thức ăn nên một mình bị cáo Hồng điều K2 xe mô tô đi từ nhà bị cáo P đến xã Đ để mua thức ăn về uống rượu tiếp, khi đi đến đoạn đường thuộc ấp G, xã Đ, huyện T thì bị cáo H thấy anh Thạch N đang ngồi uống nước với bạn. Bị cáo H nhớ lại chuyện đánh nhau giữa bị cáo với anh N vào khoảng 01 năm trước (không xác định thời gian cụ thể) nên chạy xe về nhà bị cáo P. Bị cáo H nói với bị cáo P là có gặp anh N và hỏi bị cáo P cho mượn dao để đi chém anh N thì bị cáo P đồng ý. Bị cáo P đi xuống nhà sau lấy 03 cây dao tự chế đưa cho bị cáo H 01 cây, còn 02 cây thì bị cáo Phước Q1 trong cái áo thun màu trắng và tự giữ.

Sau đó, cả nhóm 06 người thống nhất cùng đi chém anh N và đi trên 02 xe mô tô: Anh D2 điều khiển xe mô tô chở bị cáo K và bị cáo H ngồi sau. Anh Đ điều khiển xe mô tô chở anh K1 và bị cáo P ngồi sau, cả nhóm đi đến đường nhựa trước cổng chùa G (Chùa C) thì dừng xe lại để chờ anh N uống nước ra về sẽ đón đánh nhưng chờ khoảng 10 phút thì không thấy anh N đi ra nên cả nhóm quyết định đi đến trước quán H2 (nơi anh N uống nước) quan sát, nếu thấy anh N còn tại quán trên thì tiến hành đánh anh N tại đây. Khi đến trước quán H2 thì nhóm bị cáo H vẫn không thấy anh N nên quyết định quay về nhà bị cáo P để uống rượu tiếp, tại quán Hiên, nhóm bị cáo H có gặp thêm 02 người bạn gồm Dương Hoàng T3 và Thạch N1 nên rủ T3 và N1 cùng về nhà P để uống rượu thì T3 và N1 đồng ý. Khi đến trước quán H2 thì nhóm bị cáo H vẫn không thấy anh N nên quyết định quay về nhà bị cáo P để uống rượu tiếp.

Khoảng 21 giờ 40 phút cùng ngày, trên đường đi về nhà bị cáo P, khi ngang quán hủ tiếu của bà Lữ Thị Hồng S thuộc ấp C, xã Đ, huyện T thì bị cáo H thấy anh N cùng 03 người bạn gồm anh Thạch P1, anh Lý Văn C2 và anh Lý Minh T4 đang ngồi ăn tại đây nên bị cáo H cùng cả nhóm dừng xe lại. Bị cáo H cầm dao tự chế chạy vào quán chém nhóm của anh N nhưng không trúng ai trong nhóm của anh N, khi thấy anh N cùng cả nhóm bỏ chạy thì bị cáo H cầm dao đuổi theo anh N được khoảng 70m nhưng không đuổi kịp nên quay trở lại trước quán hủ tiếu, thấy có 02 chiếc xe mô tô bỏ lại trước quán của bà S, nghĩ rằng là xe của nhóm anh N nên cầm dao tự chế chém mạnh nhiều cái vào vùng đầu xe mô tô hiệu SUZUKI, loại RAIDER, biển số: 84M1 - 183.44 và dùng chân đạp mạnh 01 cái vào thân xe làm cho xe ngã xuống đường. Thấy bị cáo H chém xe nên bị cáo P trên tay đang cầm dao tự chế cũng chém mạnh nhiều cái vào vùng đầu xe và 02 cái vào vùng bên trái thân xe mô tô nêu trên làm xe bị hư hỏng. Riêng bị cáo K, sau khi thấy bị cáo H chém xe nên cũng cầm dao tự chế chém mạnh nhiều cái vào đầu xe mô tô hiệu SUZUKI, loại RAIDER, biển số: 84G1 - 628.00 và dùng chân đạp mạnh vào thân xe làm cho xe mô tô nêu trên ngã xuống đường, bị hư hỏng, sau đó cả nhóm của bị cáo H rời khỏi hiện trường đi về nhà bị cáo P.

Kết luận định giá kết luận tổng giá trị thiệt hại của hai xe 84G1 - 628.00 và 84M1 - 183.44 là 5.450.754 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 77/2024/HSST ngày 23/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Văn H, Kiên Hữu P và Hồng Tuấn K phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn H 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Xử phạt: Bị cáo Kiên Hữu P 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Xử phạt: Bị cáo Hồng T Khoa 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về bồi thường trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 06/9/2024, các bị cáo Phạm Văn H, Kiên Hữu P, Hồng Tuấn K kháng cáo xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, các bị cáo Phạm Văn H, Kiên Hữu P, Hồng Tuấn K thừa nhận hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã thể hiện, bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ gì mới.

Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh: Sau khi xem xét toàn diện nội dung vụ án, lời trình bày của các bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Phạm Văn H, Kiên Hữu P, Hồng Tuấn K phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Về mức hình phạt án sơ thẩm xử phạt bị cáo Phạm Văn H 09 (chín) tháng tù, bị cáo Kiên Hữu P, bị cáo Hồng Tuấn K mỗi bị cáo 06 (sáu) tháng tù là phù hợp với tính chất vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay các bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới. Từ những nhận định và phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo Phạm Văn H, Kiên Hữu P, Hồng Tuấn K, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Trà Cú.

Lời nói sau cùng của các bị cáo Phạm Văn H, Kiên Hữu P, Hồng Tuấn K: Xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo bị cáo là trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[2] Đối với yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo Phạm Văn H, Kiên Hữu P, Hồng Tuấn K Hội đồng xét xử nhận thấy: tại phiên tòa hôm nay các bị cáo khai nhận do có mâu thuẫn với nhóm của chủ sở hữu tài sản, ba bị cáo mỗi người dùng một cây dao tự chế, ba cây dao này do bị cáo Kiên Hữu P cung cấp, rượt đuổi chém nhưng do chém bên phía những người chủ sở hữu tài sản không được nên các bị cáo quay lại nơi đậu xe, bị cáo H, bị cáo P dùng dao chém vào một chiếc xe, bị cáo K dùng dao chém vào một chiếc xe, cả hai xe điều bị làm hư hỏng gây thiệt 5.450.754 đồng. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[3] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo Phạm Văn H, Kiên Hữu P, Hồng Tuấn K là nguy hiểm cho xã hội. Bản thân các bị cáo nhận thức được xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo bất chấp pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo hoàn toàn không biết hai xe chủ sở hữu là ai nhưng vẫn dùng dao chém gây thiệt hại, đây là hành vi mang tính chất côn đồ. Hành vi của các bị cáo thể hiện ý thức xem thường kỷ cương pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương nên cần xử lý nghiêm nhằm phục nhiệm vụ chính trị tại địa phương. Xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Phạm Văn H 09 (chín) tháng tù, bị cáo Kiên Hữu P, bị cáo Hồng Tuấn K mỗi bị cáo 06 (sáu) tháng tù là đã xem xét hết các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo, đánh giá đúng tính chất vụ án, hành vi nguy hiểm của các bị cáo, hình phạt cấp sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo là còn nhẹ nên không nặng, tại phiên tòa hôm nay các bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ đặc biệt theo quy định khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Phạm Văn H, bị cáo Kiên Hữu P, bị cáo Hồng Tuấn K giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án huyện T.

[4] Đề nghị của Viện Kiểm sát xét xử phúc thẩm là phù hợp với quy định pháp luật, phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Phạm Văn H, bị cáo Kiên Hữu P, bị cáo Hồng Tuấn K không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo Phạm Văn H, Kiên Hữu P, Hồng Tuấn K.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 77/2024/HSST ngày 23/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.

Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Văn H, Kiên Hữu P và Hồng Tuấn K phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn H 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Xử phạt: Bị cáo Kiên Hữu P 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Xử phạt: Bị cáo Hồng T Khoa 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ tố tụng hình sự; Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Phạm Văn H, bị cáo Kiên Hữu P, bị cáo Hồng Tuấn K mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - TAND huyện Trà Cú;
  • - VKSND huyện Trà Cú;
  • - Cơ quan THAHS huyện Trà Cú;
  • - Cơ quan CSĐT huyện Trà Cú;
  • - Chi cục THADS huyện Trà Cú;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/HS-PT ngày 07/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về cố ý làm hư hỏng tài sản

  • Số bản án: 57/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý làm hư hỏng tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 07/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cố ý làm hư hỏng tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger