|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG TỈNH TRÀ VINH Bản án số: 57/2024/HS - ST Ngày: 31-10 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Hoàng Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Anh Vũ.
Bà Trần Thị Thi.
Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Văn Dư – Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Mộng Cầm - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51/2024/TLST - HS, ngày 07 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST – HS, ngày 18 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Phan Trường G, sinh ngày 26/3/1980.
Nơi cư trú: Ấp S, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn lớp 06/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Con ông Phan Văn S, sinh năm 1951 và bà Nguyễn Phi L, sinh năm 1961; Anh chị em ruột: Không có; Vợ: Phạm Thị M, sinh năm 1981 (đã ly hôn); Con: Có 01 người, sinh năm 2011; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 02/8/2024 đến ngày 08/8/2024 chuyên tạm giam cho đến nay. (bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Bích C, sinh năm 1968. (xin xét xử vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp S, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 02 tháng 8 năm 2024, bị cáo Phan Trường G một mình điều khiển xe ô tô tải mang biển kiểm soát 84C - 089.72 (xe do bà Nguyễn Thị Bích C, sinh năm 1968, nơi cư trú ấp S, xã M, huyện C là dì ruột của bị cáo G đứng tên chủ sở hữu, G là tài xế lái xe cho bà C) đi từ nhà tại ấp S, xã M, huyện C để giao bánh ống tại thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. Khi đến thành phố V, do muốn sử dụng ma túy nên bị cáo G điều khiển xe ô tô tải nói trên đến khu vực gần Cầu L thuộc phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long tìm người bán ma túy. Tại đây, bị cáo gặp một người đàn ông khoảng 40 - 50 tuổi (không xác định họ tên, địa chỉ, không có số điện thoại liên lạc, do trước đó đã từng nhiều lần đến khu vực trên mua ma túy và thường gặp người đàn ông đứng ở lề đường gần khu vực Cầu L) đang đứng bên lề đường nên hỏi mua ma túy, loại heroine từ người đàn ông với số tiền 1.500.000 đồng thì được người này đồng ý bán. Bị cáo G đưa số tiền 1.500.000 đồng cho người đàn ông và nhận một túi vuốt khóa miệng bên trong có ma túy heroine, cất giấu vào túi áo phía trước bên phải của bị cáo đang mặc rồi điều khiển xe ô tô tải đi về nhà. Trên đường về, bị cáo ghé vào một tiệm thuốc tây (không xác định bảng hiệu, địa chỉ) để mua 10 bơm kim tiêm với giá 50.000 đồng rồi cất giấu bơm kim tiêm vào túi quần phía trước bên phải đang mặc. Khi đến trước cửa nhà tại ấp S, xã M, huyện C, bị cáo G dừng xe lại, tắt máy xe, lấy một phần ma túy heroine trong túi vuốt khóa miệng vừa mua được sử dụng một mình bằng hình thức chích vào cơ thể. Số ma túy còn lại trong túi vuốt bị cáo cất giấu trở lại túi áo phía trước bên phải đang mặc rồi mở cửa xe ô tô bước xuống để đi vào nhà. Khi vừa xuống xe thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, bắt quả tang bị cáo G đang cất giấu ma túy trên người nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ, niêm phong tang vật.
Tại bản cáo trạng số: 50/CT –VKS - HS, ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh, truy tố bị cáo Phan Trường G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đôi bô sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phan Trường G hoàn toàn thống nhất với nội dung bản cáo trạng của Cơ quan Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh và thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Khoảng 15 giờ 10 phút ngày 02 tháng 8 năm 2024, tại ấp S, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Heroine (H), khối lượng 1,7267 gam nhằm mục đích sử dụng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.
Quan điểm của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh: Sau khi phân tích các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, như quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vị đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Phan Trường G từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ là ngày 02/8/2024. Xử phạt bổ sung bị cáo Phan Trường G từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng nộp vào ngân sách Nhà nước.
Về vật chứng: 01 túi nylong loại túi vuốt khóa miệng có viền màu đỏ, kích thước 04 cm x 7,5 cm, bên trong chứa chất nghi là chất ma túy (Kết luận giám định là ma túy, loại Heroine (H), khối lượng 1,7267 gam. Quá trình giám định đã sử dụng và hoàn trả lại khối lượng 1,7005 gam mẫu vật được để trong túi niêm phong số: 389/2024/M; 09 bơm kim tiêm nhãn hiệu BBRAUNU-100 INSULIN, chưa qua sử dụng; 01 bơm kim tiêm nhãn hiệu BBRAUNU-100 INSULIN, đã qua sử dụng; 01 nỏ thủy tinh chiều dài 14 cm, một đầu có bình chứa, đường kính 1,5 cm; 01 chai nhựa có chữ Sting chiều dài 22 cm, đường kính đáy 05 cm, nắp chai màu đỏ có gắn một đoạn ống hút màu trắng chiều dài 20 cm và một nỏ thủy tinh chiều dài 14 cm, một đầu có bình chứa đường kính 1, 5 cm; 06 bơm kim tiêm có đặc điểm tương đồng nhau, có cùng chiều dài 9,5 cm, đường kính 0,5 cm, đã qua sử dụng là tang vật của vụ án đề nghị tịch thu tiêu hủy.
- - 01 căn cước công dân số 08408000627; 01 giấy phép lái xe số [...]; của bị cáo Phan Trường G không liên quan đến hành vi phạm tội, đề nghị tuyên trả lại cho bị cáo G.
- - 01 giấy chứng nhận bản sao đúng với bản chính chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 84000405, biển số 84C – 089.72; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô số: 24BB240111004; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỷ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số: DB1750145; 01 giấy biên nhận thế chấp số: 02/2021/BN-LPB.CL; 01 giấy xác nhận số: 02/2021/LienVietPostBank. PGDCANGLONG ngày 23/02/2021; 01 xe ô tô biển số 84C – 089.72, loại phương tiện ô tô tải (có mui), nhãn hiệu TERACO, số loại: TERA100-MB2, số máy: 4G13SINAMTS00771, số khung: RM0BH17GLLC00263; là tài sản thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị Bích C, không liên quan đến hành vi phạm tội, đề nghị tuyên trả lại cho bà Nguyễn Thị Bích C.
Ngoài ra vị còn đề nghị buộc bị cáo Phan Trường G phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Qua quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát, bị cáo có mặt tại phiên tòa không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng của bị cáo Phan Trường G xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng không bổ sung tài liệu, đồ vật và không đề nghị triệu tập thêm người tham gia tố tụng. Xác định tư cách người tham gia tố tụng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của luật Tố tụng hình sự và giới hạn xét xử của Tòa án theo Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt là phù hợp với Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên Tòa vị đại diện viện kiểm sát và bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vì việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo Phan Trường G là nguy hiểm cho xã hội. Bởi vì, ma túy là chất gây nghiện ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, khả năng tham gia lao động, học tập, ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về trí tuệ của người sử dụng, ảnh hưởng sự duy trì nồi giống mà còn làm cho nhiều gia đình phải đổ vỡ hạnh phúc và còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Bản thân bị cáo là thanh niên có đủ sức khỏe, có nghề nghiệp để tạo ra nguồn thu nhập phục vụ cho nhu cầu sống của bản thân, nhưng không chí thú làm ăn, lại vi phạm pháp luật. Xét về nhân thân bị cáo Ngày 02 tháng 8 năm 2024 bị Công an huyện C ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền là 1.500.000 đồng theo Quyết định số 129/QĐ-XPHC ngày 02 tháng 8 năm 2024, chưa chấp hành quyết định xử phạt. Đáng lẻ ra bị cáo phải biết ăn năn hối cải để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, nhưng bị cáo lại tiếp tục vi phạm. Cụ thể: Khoảng 15 giờ 10 phút ngày 02 tháng 8 năm 2024, tại ấp S, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Heroine (H), khối lượng 1,7267 gam.
[3]. Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, bản thân bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo còn xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý Nhà nước trong việc quản lý, kiểm soát chất ma túy, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội và gây bức xúc trong quần chúng nhân dân.
[4] Những năm gần đây, cả nước nói chung và trên địa bàn huyện C, tỉnh Trà Vinh nói riêng, hành vi vi phạm tội phạm về ma túy liên tục xảy ra, gây hoang mang, bức xúc trong cuộc sống, sinh hoạt thường ngày của nhân dân, tạo ra nổi lo sợ cho xã hội. Để góp phần ổn định tình hình trật tự cho địa phương và đấu tranh ngăn ngừa tội phạm. Hội đồng xét xử cần thiết phải xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi của bị cáo đã gây ra và tính chất của vụ án, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để tạo điều kiện cải tạo, giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử cũng cần xem xét: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Đây là những căn cứ áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
[5]. Do đó ý kiến đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ theo quy định của pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Đối với người đàn ông khoảng 40-50 tuổi bán ma túy cho bị cáo G do không có thông tin, địa chỉ cụ thể, không có số điện thoại liên lạc, đồng thời Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại địa phương nơi bị cáo G mua ma túy nhưng không xác định được thông tin về đối tượng nên không làm việc được, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào làm việc được nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với xe ô tô tải mang biển kiểm soát 84C - 089.72 do bà Nguyễn Thị Bích C đứng tên chủ sở hữu, bị cáo G làm tài xế lái xe thuê cho bà C để đi giao bánh ống. Việc bị cáo G sử dụng xe ô tô tải nói trên để mua và tàng trữ trái phép chất ma túy thì bà Nguyễn Thị Bích C hoàn toàn không hay biết. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bà C.
Qua tra cứu dữ liệu trên hệ thống cơ sở dữ liệu truy nã, truy tìm của Bộ C1, xác định xe mô tô biển số 84C - 089.72 không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng lưu trữ tại V Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C1.
[7]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Đồng thời thống nhất với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường của Công an huyện C, bản kết luận giám định số 389/KL-KTHS ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh T. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[8]. Lời nhận tội của bị cáo Phan Trường G tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do cơ quan Điều tra Công an huyện C thu thập có được.
Do vậy, Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long quyết định truy tố bị cáo Phan Trường G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là phù hợp với qui định của pháp luật, đúng người, đúng tội.
[9] Về vật chứng: Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ gồm: 01 túi nylong loại túi vuốt khóa miệng có viền màu đỏ, kích thước 04 cm x 7,5 cm, bên trong chứa chất nghi là chất ma túy (Kết luận giám định là ma túy, loại Heroine (H), khối lượng 1,7267 gam. Quá trình giám định đã sử dụng và hoàn trả lại khối lượng 1,7005 gam mẫu vật được để trong túi niêm phong số: 389/2024/M; 09 bơm kim tiêm nhãn hiệu BBRAUNU-100 INSULIN, chưa qua sử dụng; 01 bơm kim tiêm nhãn hiệu BBRAUNU-100 INSULIN, đã qua sử dụng; 01 nỏ thủy tinh chiều dài 14 cm, một đầu có bình chứa, đường kính 1,5 cm; 01 chai nhựa có chữ Sting chiều dài 22 cm, đường kính đáy 05 cm, nắp chai màu đỏ có gắn một đoạn ống hút màu trắng chiều dài 20 cm và một nỏ thủy tinh chiều dài 14 cm, một đầu có bình chứa đường kính 1,5 cm; 06 bơm kim tiêm có đặc điểm tương đồng nhau, có cùng chiều dài 9,5 cm, đường kính 0,5 cm, đã qua sử dụng là tang vật của vụ án tịch thu tiêu hủy.
- - 01 căn cước công dân số 08408000627; 01 giấy phép lái xe số [...]; của bị cáo Phan Trường G không liên quan đên hành vi phạm tội, tuyên trả lại cho bị cáo G.
- - 01 giấy chứng nhận bản sao đúng với bản chính chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 84000405, biển số 84C – 089.72; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô số: 24BB240111004; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỷ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số: DB1750145; 01 giấy biên nhận thế chấp số: 02/2021/BN-LPB.CL; 01 giấy xác nhận số: 02/2021/LienVietPostBank. PGDCANGLONG ngày 23/02/2021; 01 xe ô tô biển số 84C – 089.72, loại phương tiện ô tô tải (có mui), nhãn hiệu TERACO, số loại: TERA100-MB2, số máy: 4G13SINAMTS00771, số khung: RM0BH17GLLC00263; là tài sản thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị Bích C, không liên quan đến hành vi phạm tội, tuyên trả lại cho bà Nguyễn Thị Bích C.
[10] Về án phí: Bị cáo Phan Trường G phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[11] Từ những nhận định trên, quan điểm đề nghị của Vị Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long tại phiên tòa là có căn cứ theo quy định của pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phan Trường G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ vào các Điều 45, 260, 268, 269, 299 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Phan Trường G 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ là ngày 02/8/2024. Xử phạt bổ sung bị cáo Phan Trường G 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.
2. Về vật chứng: Căn cứ điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) túi nylong loại túi vuốt khóa miệng có viền màu đỏ, kích thước 04 cm x 7,5 cm, bên trong chứa chất nghi là chất ma túy (Kết luận giám định là ma túy, loại Heroine (H), khối lượng 1,7267 gam. Quá trình giám định đã sử dụng và hoàn trả lại khối lượng 1,7005 gam mẫu vật được để trong túi niêm phong số: 389/2024/M; 09 (chín) bơm kim tiêm nhãn hiệu BBRAUNU-100 INSULIN, chưa qua sử dụng; 01 (một) bơm kim tiêm nhãn hiệu BBRAUNU-100 INSULIN, đã qua sử dụng; 01 (một) nỏ thủy tinh chiều dài 14 cm, một đầu có bình chứa, đường kính 1,5 cm; 01 (một) chai nhựa có chữ Sting chiều dài 22 cm, đường kính đáy 05 cm, nắp chai màu đỏ có gắn một đoạn ống hút màu trắng chiều dài 20 cm và 01 (một) nỏ thủy tinh chiều dài 14 cm, một đầu có bình chứa đường kính 1,5 cm; 06 (sáu) bơm kim tiêm có đặc điểm tương đồng nhau, có cùng chiều dài 9,5 cm, đường kính 0,5 cm, đã qua sử dụng.
- Tuyên giao trả cho bị cáo Phan Trường G: 01 (một) căn cước công dân số 08408000627; 01 (một) giấy phép lái xe số [...].
- T giao trả cho bà Nguyễn Thị Bích C: 01 (một) giấy chứng nhận bản sao đúng với bản chính chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 84000405, biển số 84C – 089.72; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô số: 24BB240111004; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỷ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số: DB1750145; 01 (một) giấy biên nhận thế chấp số: 02/2021/BN-LPB.CL; 01 (một) giấy xác nhận số: 02/2021/LienVietPostBank. PGDCANGLONG ngày 23/02/2021; 01 (một) xe ô tô biển số 84C – 089.72, loại phương tiện ô tô tải (có mui), nhãn hiệu TERACO, số loại: TERA100-MB2, số máy: 4G13SINAMTS00771, số khung: RM0BH17GLLC00263; là tài sản thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị Bích C, không liên quan đến hành vi phạm tội, tuyên trả lại cho bà Nguyễn Thị Bích C.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q;
Buộc bị cáo Phan Trường G phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo có mặt tại phiên tòa được biết, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày án sơ thẩm tuyên. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân xQ, phường, thị trấn nơi cư trú.
(Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 06, 07 và 09 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Văn Hoàng Vân |
Bản án số 57/2024/HS - ST ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 57/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án hình sự Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
