Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN U MINH THƯỢNG

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 57/2024/DS-ST

Ngày: 01/10/2024.

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Và hợp đồng chuyển nhượng QSD đất”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH THƯỢNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Loan

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Hổ

Ông Nguyễn Hoàng Khởi

- Thư ký phiên tòa: Bà Quách Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh Thượng tham gia phiên toà: Ông Huỳnh Hải Đăng, Kiểm sát viên.

Trong ngày 01 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 107/2020/TLST-DS, ngày 08 tháng 7 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng; Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 7 năm 202, Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2024/QÐST-DS ngày 22 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2024/QÐST-DS ngày 19 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Đ (S)

Địa chỉ: Số B T, phường P, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn T – Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Đ (S)

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Đình K – Phó Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Đ (S) theo giấy ủy quyền số 359/2018/UQ-SeABank ngày 20/4/2018.

Người được ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1987 – Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ Ngân hàng TMCP Đ.

Địa chỉ: Số B N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang. (Ông C – có mặt)

2/ Bị đơn: Bà Lương Thị T1, sinh năm 1963

Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang. (Bà T1 – có mặt)

3/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

  • + Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1985 (Anh H – vắng mặt)
  • + Chị Nguyễn Ái K1, sinh năm 1987 (chị K1 – vắng mặt)
  • Cùng địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang.
  • + Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1992 (chị H1 – có mặt)
  • Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang.
  • + Anh Quách Văn P, sinh năm 1984. (anh P – có mặt)
  • Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang.
  • Chỗ ở hiện nay: Ấp Đ, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang.
  • + Ông Lê Thanh L, sinh năm 1955. (ông L – có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
  • Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang.
  • + Ông Lương Văn H2, sinh năm 1960. (ông H2 – vắng mặt)
  • Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.

4/ Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Y bao gồm:

  • + Chị Phan Thị Kim H3 sinh năm 1976. (chị Kim H3 – vắng mặt)
  • Địa chỉ: Ấp E, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
  • + Chị Quách Thị Kim B, sinh năm 1978. (chị Kim B – có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
  • Địa chỉ: Ấp H, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
  • + Chị Quách Thị Kim T2, sinh năm 1980. (chị Kim T2 – có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
  • Địa chỉ: Ấp G, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
  • + Chị Quách Thị Kim N, sinh năm 1982. (chị Kim N – có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
  • Địa chỉ: Ấp G, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
  • + Chị Quách Thị Kim L1, sinh năm 1985. (chị Kim L1 – có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
  • Địa chỉ: Ấp G, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
  • + Anh Quách Văn Phong E, sinh năm 1987. (anh Phong E – có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
  • Địa chỉ: Ấp G, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
  • + Chị Quách Thị H4, sinh năm1989. (chị H4 – có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
  • Địa chỉ: Ấp T, xã V, huyện V, tỉnh Bạc Liêu.
  • + Anh Quách Văn C1, sinh năm 1994. (anh C1 – có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
  • Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang.
  • + Anh Quách Văn M, sinh năm 1995. (anh M – có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
  • Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang.
  • + Anh Quách Văn P, sinh năm 1984. (anh P – có mặt)
  • Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện ngày 29/5/2020 và các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của Nguyên đơn, ông Nguyễn Văn C trình bày:

Ngày 08/5/2018 ông Nguyễn Văn L2 (đã chết vào ngày 15/02/2019) (sau đây gọi tắt là ông L2) và bà Lương Thị T1 (sau đây gọi tắt là bà T1) đã ký hợp đồng tín dụng số 506018/HĐTD-NH/CNKG với Ngân hàng TMCP Đ (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) tại Chi nhánh K2 vay số tiền 200.000.000 đồng, mục đích vay nhằm sản xuất nông nghiệp. Thời hạn vay 12 tháng, lãi suất là 11,5%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Tài sản bảo đảm cho khoản vay là quyền sử dụng đất có diện tích 20.397,9m² thuộc thửa đất số 196, 139, 64, tờ bản đồ số 23 tọa lạc tại ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BN 564201 vào sổ cấp giấy chứng nhận CH: 01120 do UBND huyện U, tỉnh Kiên Giang cấp ngày 25/6/2013 do ông Nguyễn Văn L2 và bà Lương Thị T1 đứng tên.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông L2 và bà T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng. Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc và yêu cầu ông L2 và bà T1 trả nợ nhưng ông L2 và bà T1 vẫn không thực hiện theo yêu cầu của Ngân hàng.

Nay Ngân hàng TMCP Đ yêu cầu buộc bà T1 cùng các con của ông L2 là anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Ái K1 và chị Nguyễn Thị H1 phải liên đới trả cho Ngân hàng TMCP Đ tổng số tiền vay gốc và lãi tạm tính đến ngày 01/10/2024 là 422.493.480 đồng (trong đó, tiền gốc là 200.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 01/10/2024 là 222.493.480 đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng từ ngày 02/10/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ các khoản nợ.

Trường hợp bà T1 cùng các con của ông L2 là anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Ái K1 và chị Nguyễn Thị H1 không thanh toán hết các khoản nợ vay cho Ngân hàng thì Ngân hàng TMCP Đ yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự kê biên, bán đấu giá tài sản thế chấp để thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP Đ.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Quách Văn P (sau đây gọi tắt là anh P) trình bày yêu cầu độc lập

Vào ngày 24/3/2017 ông L2 có chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Y (đã chết ngày 25/5/2023) (sau đây gọi tắt là bà Y) diện tích đất là 07 công tầm 3m, mặt tiền vô 36m ngang 7m, đất ruộng ngang 20m tọa lạc ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang với giá 140.000.000 đồng, bà Y đã trả cho ông L2 125.000.000 đồng còn 15.000.000 đồng hai bên thoả thuận khi nào ông L2 làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Y thì bà Y sẽ giao thêm 15.000.000 đồng cho ông L2, ông L2 chuyển nhượng mặt tiền bằng giá của đất ruộng, mặt tiền 1 góc 4 là 5.000.000 đồng. Khi chuyển nhượng có làm giấy tay do ông L2 viết và ký tên, có chứng kiến là ông Nguyễn Văn H5 (đã chết), bà T1 không có ký tên trong giấy chuyển nhượng vì lúc này bà T1 đi làm ăn xa không có ở nhà, có xác nhận của đại diện ban lãnh đạo ấp M. Sau khi chuyển nhượng xong thì ông L2 nói đang thế chấp quyền sử dụng đất tại Ngân hàng nên lấy tiền chuyển nhượng đất cho bà Y để lấy giấy chứng nhận QSD đất tiến hành tách thửa cho bà Y. Nhưng sau đó ông L2 nói có thiếu tiền bên ngoài nên vay tiền của Ngân hàng TMCP Đ để trả nên bà Y vẫn không được tách thửa QSD đất đã chuyển nhượng.

Từ khi chuyển nhượng đất của ông L2 thì bà Y và anh P đã xây dựng nhà và canh tác trồng lúa trên QSD đất đã chuyển nhượng.

Nay anh P yêu cầu Toà án huỷ hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa bà Y và ông L2 đề ngày 24/3/2017; Yêu cầu bà T1 và các con của ông L2 và bà T1 là anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Ái K1 và chị Nguyễn Thị H1 trả lại cho anh P số tiền mẹ anh P là bà Y đã trả tiền chuyển nhượng đất của ông L2 là 125.000.000 đồng. Anh P không yêu cầu bồi thường khi huỷ hợp đồng chuyển nhượng QSD đất. Anh P đang sử dụng căn nhà nên anh P tự di dời nhà trên đất, anh P không yêu cầu bồi thường về căn nhà và đồng ý trả lại diện tích đất 07 công tầm lớn và mặt tiền ngang 7m x dài 36m (theo đo đạc thực tế là 8216,4m² đất) toạ lạc ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang cho bà T1 và các con của bà T1.

3. Theo Bị đơn bà Lương Thị T1 (sau đây gọi tắt là bà T1) trình bày:

Bà T1 thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của đại diện Ngân hàng, bà T1 và ông L2 có ký hợp đồng tín dụng vay số tiền 200.000.000 đồng tại Ngân hàng TMCP Đ. Bà T1 cùng anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Ái K1, chị Nguyễn Thị H1 đồng ý trả toàn bộ tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 01/10/2024 là 422.493.480 đồng cho Ngân hàng TMCP Đ.

Đối với yêu cầu của bà Y và anh P, trước đây bà T1 có nghe ông L2 nói có chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích bao nhiêu thì bà T1 không biết cho bà Y, còn nền nhà bà Y cất nhà thì cho mượn. Bà T1 cùng các con không biết và không có ký tên. Bà T1 chỉ nghe ông L2 nói là ông L2 chuyển nhượng QSD đất cho bà Y với số tiền là 120.000.000 đồng, bà T1 và ông L2 vay tiền Ngân hàng để chuộc lại đất đã chuyển nhượng cho bà Y là 120.000.000 đồng và múc vuông canh tác đất, con bà T1 là H có đến yêu cầu bà Y trả đất di dời nhà đi vì ông L2 đã trả tiền chuộc đất lại rồi nhưng bà Y không nói gì. Nhưng đến nay ông L2 chết bà Y nói ông L2 không có đưa tiền cho bà Y.

Bà T1 không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà Y và anh P vì bà T1 đã vay tiền của Ngân hàng và có nghe ông L2 nói là đã trả cho bà Y 120.000.000 đồng để chuộc đất đã chuyển nhượng của bà Y rồi, nhưng việc chuộc đất là không có giấy tờ và không có người làm chứng.

4/ Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Y là chị Phan Thị Kim H3, chị Quách Thị Kim B, chị Quách Thị Kim T2, chị Quách Thị Kim N, chị Quách Thị Kim L1, anh Quách Văn Phong E, chị Quách Thị H4, anh Quách Văn C1, anh Quách Văn M đều thống nhất ý kiến trình bày: Chị Kim H3, chị Kim B, chị Kim T2, chị Kim N, chị Kim L1, anh Phong E, chị H4, anh C1 và anh M chỉ nghe bà Nguyễn Thị Y (đã chết vào năm 2023) nói lại là có chuyển nhượng QSD đất của ông L2 nhưng không biết chuyển nhượng diện tích là bao nhiêu với giá 140.000.000 đồng, bà Y có trả cho ông L2 số tiền 125.000.000 đồng, tiền chuyển nhượng trả cho ông L2 là của bà Y. Khi chuyển nhượng QSD đất của ông L2 là không có mặt Chị Kim H3, chị Kim B, chị Kim T2, chị Kim N, chị Kim L1, anh Phong E, chị H4, anh C1 và anh M. Sau khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất anh P và bà Y khi còn sống đã sử dụng, canh tác và xây dựng nhà ở cho đến nay.

Nay Chị Kim H3, chị Kim B, chị Kim T2, chị Kim N, chị Kim L1, anh Phong E, chị H4, anh C1 và anh M thống nhất theo lời trình bày của anh P là huỷ hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa bà Y và ông L2 đề ngày 24/3/2017; Yêu cầu bà T1 và các con của ông L2 và bà T1 là anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Ái K1 và chị Nguyễn Thị H1 trả lại cho anh P số tiền mà bà Y đã trả khi chuyển nhượng QSD đất của ông L2 là 125.000.000 đồng. Chị Kim H3, chị Kim B, chị Kim T2, chị Kim N, chị Kim L1, anh Phong E, chị H4, anh C1 và anh M không yêu cầu bồi thường thiệt hại khi huỷ hợp đồng chuyển nhượng QSD đất. Anh P tự di dời nhà trên đất không yêu cầu bồi thường và trả lại diện tích đất 07 công tầm lớn và mặt tiền ngang 7m x dài 36m (theo đo đạc thực tế là 8216,4m² đất) toạ lạc ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang cho bà T1 và các con của bà T1. Chị Kim H3, chị Kim B, chị Kim T2, chị Kim N, chị Kim L1, anh Phong E, chị H4, anh C1 và anh M thống nhất để anh P khởi kiện yêu cầu độc lập trong vụ kiện này.

5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Ái K1 (sau đây gọi tắt là chị K1 )và chị Nguyễn Thị H1 (sau đây gọi tắt là chị H1)thống nhất theo lời trình bày của bà T1, không có ý kiến gì thêm.

6. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh nguyễn Văn H (sau đây gọi tắt là anh H) đã được Toà án triệu tập hoà giải và xét xử nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày.

7. Tại biên bản lấy lời khai ngày 09 tháng 6 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện U Minh Thượng, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lương Văn H2 (sau đây gọi tắt là ông H2) trình bày: Năm 2008 ông H2 có chuyển nhượng diện tích 5,5 công đất tầm 3m của ông L2 và bà T1 với giá mỗi công đất bằng 05 chỉ vàng 24k toạ lạc ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang, khi chuyển nhượng có làm giấy viết tay nhưng không có xác nhận chính quyền địa phương. Ông H2 tự thoả thuận với bà T1, ông H2 không yêu cầu khởi kiện trong vụ kiện này, trường hợp phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện thành vụ kiện khác.

8. Tại biên bản lấy lời khai ngày 18 tháng 8 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện U Minh Thượng, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh L (sau đây gọi tắt là ông L) trình bày: Ngày 27/01/2014 ông L có chuyển nhượng diện tích ngang 04mx dài 820m đất mặt tiền của ông L2 và bà T1 với giá 39.814.000 đồng toạ lạc ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang, khi chuyển nhượng có làm giấy viết tay, ông L đã thanh toán cho ông L2 và bà T1 tổng số tiền 29.314.000 đồng, còn lại 10.500.000 đồng hai bên thoả thuận đến khi làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận QSD đất xong ông L sẽ thanh toán đủ số tiền còn lại. Ông L tự thoả thuận với bà T1, ông L không yêu cầu khởi kiện trong vụ kiện này, trường hợp phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện thành vụ kiện khác.

9. Tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được bao gồm:

Hợp đồng tín dụng số 506018/HĐTD-NH/CNKG ngày 08/5/2018 (bản sao); Hợp đồng thế chấp số 506018/HĐTC-NH/CNKG ngày 08/5/2018 (bản sao); Giấy chứng nhận QSD đất của ông Nguyễn Văn L2 và bà Lương Thị T1 (photo); Bảng tính lãi, Tờ trích đo địa chính, chứng thư định giá, biên bản lấy lời khai.

Tại phiên tòa:

- Ông C đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn yêu cầu buộc bà T1 cùng các con của ông L2 là anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Ái K1 và chị Nguyễn Thị H1 phải liên đới trả cho Ngân hàng TMCP Đ tổng số tiền vay gốc và lãi tạm tính đến ngày 01/10/2024 là 422.493.480 đồng (trong đó, tiền gốc là 200.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 01/10/2024 là 222.493.480 đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng từ ngày 02/10/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ các khoản nợ.

Trường hợp bà T1 cùng các con của ông L2 là anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Ái K1 và chị Nguyễn Thị H1 không thanh toán hết các khoản nợ vay cho Ngân hàng thì Ngân hàng TMCP Đ yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự kê biên, bán đấu giá tài sản thế chấp để thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP Đ.

- Anh P yêu cầu Toà án huỷ hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa bà Y và ông L2 đề ngày 24/3/2017; Yêu cầu bà T1 và các con của ông L2 và bà T1 là anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Ái K1 và chị Nguyễn Thị H1 trả lại cho anh P số tiền mẹ anh P là bà Y đã trả tiền chuyển nhượng đất của ông L2 là 125.000.000 đồng. Anh P không yêu cầu bồi thường khi huỷ hợp đồng chuyển nhượng QSD đất. Anh P đang sử dụng căn nhà nên anh P tự di dời nhà trên đất, anh P không yêu cầu bồi thường về căn nhà và anh P đồng ý trả lại diện tích đất 07 công tầm lớn và mặt tiền ngang 7m x dài 36m (theo đo đạc thực tế là 8216,4m² đất) toạ lạc ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang cho bà T1 và các con của bà T1.

- Bà T1 đồng ý cùng anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Ái K1, chị Nguyễn Thị H1 trả toàn bộ tiền gốc và lãi 422.493.480 đồng (trong đó, tiền gốc là 200.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 01/10/2024 là 222.493.480 đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng từ ngày 02/10/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ các khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Đ.

Bà T1 không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà Y và anh P vì bà T1 và ông L2 đã vay tiền của Ngân hàng và bà có nghe ông L2 nói là đã trả cho bà Y 120.000.000 đồng để chuộc lại đất mà ông L2 đã chuyển nhượng cho bà Y rồi.

Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên toà và những người tham gia tố tụng đã thực hiện và chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà T1 cùng các con của ông L2 và bà T1 là anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Ái K1 và chị Nguyễn Thị H1 phải liên đới trả cho Ngân hàng TMCP Đ tổng số tiền vay gốc và lãi tạm tính đến ngày 01/10/2024 là 422.493.480 đồng (trong đó, tiền gốc là 200.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 01/10/2024 là 222.493.480 đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng từ ngày 02/10/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ các khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Đ. Trường hợp bà T1 cùng các con của ông L2 là anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Ái K1 và chị Nguyễn Thị H1 không thanh toán hết các khoản nợ vay cho Ngân hàng thì Ngân hàng TMCP Đ yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự kê biên, bán đấu giá tài sản thế chấp để thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP Đ.

Tuyên bố giao dịch dân sự chuyển nhượng QSD đất đề ngày 24/3/2017 giữa ông L2 và bà Y là vô hiệu do tại thời điểm hai bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất đang thế chấp tại Ngân hàng và buộc bà T1 cùng các con của ông L2 là anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Ái K1 và chị Nguyễn Thị H1 phải liên đới trả cho anh P số tiền bà Y đã chuyển nhượng QSD đất là 125.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Ái K1, ông Lương Văn H2, chị Phan Thị Kim H3 được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt; Ông Lê Thanh L, chị Quách Thị Kim B, chị Quách Thị Kim T2, chị Quách Thị Kim N, chị Quách Thị Kim L1, anh Quách Văn Phong E, chị Quách Thị H4, anh Quách Văn C1 và anh Quách Văn M có yêu cầu xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu phản tố. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh H, chị K1, ông H2 và ông L, chị Kim H3, chị Kim B, chị Kim T2, chị Kim N, chị L1, anh Phong E, chị H4, anh C1 và anh M.

[2] Về nội dung tranh chấp: Ngày 08/5/2018 ông L2 (đã chết vào ngày 15/02/2019 và bà T1 đã ký hợp đồng tín dụng số 506018/HĐTD-NH/CNKG với Ngân hàng TMCP Đ tại Chi nhánh K2 vay số tiền 200.000.000 đồng, mục đích vay nhằm sản xuất nông nghiệp. Thời hạn vay 12 tháng, lãi suất là 11,5%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Tài sản bảo đảm cho khoản vay là quyền sử dụng đất có diện tích 20.397,9m² thuộc thửa đất số 196, 139, 64, tờ bản đồ số 23 tọa lạc tại ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BN 564201 vào sổ cấp giấy chứng nhận CH: 01120 do UBND huyện U, tỉnh Kiên Giang cấp ngày 25/6/2013 do ông Nguyễn Văn L2 và bà Lương Thị T1 đứng tên.

Nay đã quá thời hạn thanh toán của hợp đồng nhưng bà T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Do đó, Ngân hàng TMCP K3 yêu cầu bà T1 cùng các con của ông L2 và bà T1 là anh H, chị K1 và chị H1 thanh toán tiền gốc và lãi là tạm tính đến ngày 01/10/2024 là 422.493.480 đồng (trong đó, tiền gốc là 200.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 01/10/2024 là 222.493.480 đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng từ ngày 02/10/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ các khoản nợ là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Đối với yêu cầu độc lập của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Y (đã chết năm 2023) và anh P yêu cầu Toà án huỷ hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa bà Y và ông L2 đề ngày 24/3/2017; Yêu cầu bà T1 và các con của ông L2 và bà T1 là anh H, chị K1 và chị H1 trả lại cho anh P số tiền mẹ anh P là bà Y đã trả tiền chuyển nhượng đất của ông L2 là 125.000.000 đồng. Anh P không yêu cầu bồi thường khi huỷ hợp đồng chuyển nhượng QSD đất. Anh P đang sử dụng căn nhà nên anh P tự di dời nhà trên đất, anh P không yêu cầu bồi thường về căn nhà và anh P đồng ý trả lại diện tích đất 07 công tầm lớn và mặt tiền ngang 7m x dài 36m (theo đo đạc thực tế là 8216,4m² đất) toạ lạc ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang cho bà T1 và các con của bà T1.

Bà Y và ông L2 chuyển nhượng tài sản đang thế chấp là vi phạm tại khoản 8 Điều 320 Bộ luật dân sự năm 2005. Vì vậy, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Y và ông L2 đề ngày 24/3/2017 là vô hiệu toàn bộ theo quy định tại quy định tại Điều 122 Bộ luật dân sự năm 2015.

Anh P cùng những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Y là chị Kim H3, chị Kim B, chị Kim T2, chị Kim N, chị Kim L1, anh Phong E, chị H4, anh C1, anh M không có yêu cầu xem xét bồi thường hợp đồng nên HĐXX không xem xét.

Bà T1 cho rằng ông L2 và bà T1 vay tiền Ngân hàng để trả tiền chuyển nhượng QSD đất cho bà Y là 120.000.000 đồng nhưng trong giấy sang bán đất đề ngày 24/3/2017 tổng số tiền chuyển nhượng là 140.000.000 đồng, đưa trước 125.000.000 đồng; Bà T1 trình bày không được phía bà Y và các con của bà Y thừa nhận, bà T1 cũng không có chứng cứ chứng minh là có việc ông L2 đã trả tiền chuyển nhượng QSD đất cho bà Y nên việc trình bày của bà T1 là không có cơ sở.

Chị Kim H3, chị Kim B, chị Kim T2, chị Kim N, chị Kim L1, anh Phong E, chị H4, anh C1, anh M thống nhất để anh P khởi kiện độc lập và đồng ý yêu cầu bà T1, anh H, chị K1 và chị H1 trả tiền chuyển nhượng QSD đất 125.000.000 đồng cho anh P. HĐXX ghi nhận.

Anh P sử dụng diện tích 8216,4m² đất (trong đó, diện tích 153,6m² thuộc đất hành lang an toàn giao thông) toạ lạc ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang, có vị trí: Cạnh 1,2 giáp Lê Văn X 383,73m, cạnh 2,5 có 37,90m và cạnh 5,6 đất thuộc hành lang an toàn giao thông 8,10m; Cạnh 6,7 giáp đường kênh 13 là 19,20m; Cạnh 7,8 đất thuộc hành lang an toàn giao thông 8,10m; Cạnh 8, 3 giáp đất Lương Thị T1 41,86, cạnh 3, 4 giáp đất Lương Thị T1 380,64m; Cạnh 4,1 giáp đất Lương Thị T1 19,36m. Trong quá trình giải quyết vụ án bà T1 không có yêu cầu phản tố, anh H, chị K1 và chị H1 không có yêu cầu độc lập yêu cầu bà Y và anh P trả diện tích đất mà ông L2 đã chuyển nhượng và hiện anh P đang sử dụng, tuy nhiên, tại phiên toà anh P tự nguyện di dời căn nhà ngang 4,4m x 10,2m nền đất, cột gỗ loại nhỏ, vách tôn, anh P không yêu cầu bồi thường về căn nhà và đồng ý trả lại diện tích đất 07 công tầm lớn và mặt tiền ngang 7m x dài 36m (theo đo đạc thực tế là 8216,4m² đất) toạ lạc ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang cho bà T1, anh H, chị K1 và chị H1 nên HĐXX có cơ sở ghi nhận.

Đối với cây trồng trên QSD đất gồm 04 cây dừa loại B và 01 cây cau loại C là của ông L2 trồng, các đương sự không yêu cầu HĐXX không xem xét.

[4] Trường hợp bà T1, anh H, chị K1 và chị H1 không trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng TMCP Đ có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự tiến hành kê biên, bán đấu giá tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 506018/HĐTC-NH/CNKG, ngày 08/5/2028 đối với diện tích 20.397,9m² thuộc thửa đất số 196, 139, 64, tờ bản đồ số 23 tọa lạc tại ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BN 564201 vào sổ cấp giấy chứng nhận CH: 01120 do UBND huyện U, tỉnh Kiên Giang cấp ngày 25/6/2013 do ông Nguyễn Văn L2 và bà Lương Thị T1 đứng tên.

Trường hợp bà T1, anh H, chị K1 và chị H1 thanh toán hết nợ cho Ngân hàng TMCP K3 thì Ngân hàng TMCP Đ có trách nhiệm trả cho bà T1, anh H, chị K1 và chị H1 bản gốc 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 564201 vào sổ cấp giấy chứng nhận CH: 01120 do UBND huyện U, tỉnh Kiên Giang cấp ngày 25/6/2013 do ông Nguyễn Văn L2 và bà Lương Thị T1 đứng tên.

[5] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lương Văn H2 và ông Lê Thanh L không có đơn yêu cầu độc lập, trường hợp phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện thành vụ kiện khác, HĐXX không xem xét.

[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp theo quy định của pháp luật nên HĐXX có cơ sở chấp nhận.

[7] Án phí dân sự sơ thẩm: Bà T1, anh H, chị K1 và chị H1 phải chịu án phí có giá ngạch trên số tiền là 422.493.480 đồng + 125.000.000 đồng = 547.493.480 đồng được tính như sau: 20.000.000 đồng + (4% x 147.493.480 đồng) = 25. 899.000 đồng và án phí dân sự không có giá ngạch là 300.000 đồng. Tổng số tiền án phí là 26.199.000 đồng.

Bà T1 có đơn xin miễn án phí do là người cao tuổi, áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. HĐXX xét miễn toàn bộ án phí là 6.549.000 đồng cho bà Lương Thị T1.

Anh H, chị K1 và chị H1 phải liên đới chịu số tiền án phí còn lại là 19.650.000 đồng.

Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền tạm ứng án phí là 6.549.000 đồng theo biên lai thu số 0004129 ngày 30/6/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.

Hoàn trả cho anh Quách Văn P và người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị Y số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000625 ngày 01/02/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.

[8] Về chi phí tố tụng: Tiền định giá tài sản 6.000.000 đồng và trích đo địa chính (bản vẽ) là 3.418.910 đồng. Tổng chí phí là 9.418.910 đồng anh P và bà T1 cùng anh H, chị K1 và chị H1 mỗi bên phải chịu ½ chi phí tố tụng là 4.709.455 đồng. Anh P đã nộp xong nên bà T1 cùng anh H, chị K1 và chị H1 phải có trách nhiệm liên đới trả lại cho anh P số tiền 4.709.455 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 144, 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, 131, 319, 320, 466, 468 Bộ luật dân sự 2015; Điều 188 Luật đất đai 2013; Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng ngày 16 tháng 6 năm 2010; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11 tháng 01 năm 2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với bà Lương Thị T1, anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Ái K1 và chị Nguyễn Thị H1.

Buộc bà Lương Thị T1, anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Ái K1 và chị Nguyễn Thị H1 liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ tổng số tiền gốc, lãi là 422.493.480 đồng (bốn trăm hai mươi hai triệu bốn trăm chín mươi ba nghìn bốn trăm tám mươi đồng) (trong đó, tiền gốc là 200.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 01/10/2024 là 222.493.480 đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng từ ngày 02/10/2024 cho đến khi bà Lương Thị T1, anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Ái K1 và chị Nguyễn Thị H1 thanh toán xong các khoản nợ.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án mà người bị thi hành án không thực hiện thì người được thi hành án có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự kê biên, bán đấu giá tài sản thế chấp bao gồm cả tài sản gắn liền với tài sản thế chấp thuộc quyền sở hữu của người bị thi hành án, trừ trường hợp có thỏa thuận khác theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số số 506018/HĐTC-NH/CNKG, ngày 08/5/2028 đối với diện tích 20.397,9m² thuộc thửa đất số 196, 139, 64, tờ bản đồ số 23 tọa lạc tại ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BN 564201 vào sổ cấp giấy chứng nhận CH: 01120 do UBND huyện U, tỉnh Kiên Giang cấp ngày 25/6/2013 do ông Nguyễn Văn L2 và bà Lương Thị T1 đứng tên.

Trường hợp bà T1, anh H, chị K1 và chị H1 thanh toán hết nợ cho Ngân hàng TMCP K3 thì Ngân hàng TMCP Đ có trách nhiệm trả cho bà T1, anh H, chị K1 và chị H1 bản gốc 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 564201 vào sổ cấp giấy chứng nhận CH: 01120 do UBND huyện U, tỉnh Kiên Giang cấp ngày 25/6/2013 do ông Nguyễn Văn L2 và bà Lương Thị T1 đứng tên.

2. Tuyên bố giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 24/3/2017 giữa bà Nguyễn Thị Y và ông Nguyễn Văn L2 đối với diện tích theo trích đo địa chính là 8216,4m² đất toạ lạc ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang là vô hiệu.

Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 24/3/2017 giữa bà Nguyễn Thị Y và ông Nguyễn Văn L2 là vô hiệu.

Buộc bà T1, anh H, chị K1 và chị H1 liên đới trả cho anh P số tiền 125.000.000 đồng (một trăm hai mươi lăm triệu đồng).

Kể từ khi bản án có hiệu lực và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ghi nhận sự tự nguyện của anh P di dời căn nhà ngang 4,4m x 10,2m nền đất, cột gỗ loại nhỏ, vách tôn và trả lại cho bà T1, anh H, chị K1 và chị H1 diện tích 8216,4m² đất (trong đó, diện tích 153,6m² thuộc đất hành lang an toàn giao thông) toạ lạc ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang, có vị trí như sau: Cạnh 1,2 giáp Lê Văn X 383,73m, cạnh 2,5 có 37,90m và cạnh 5,6 đất thuộc hành lang an toàn giao thông 8,10m; Cạnh 6,7 giáp đường kênh 13 là 19,20m; Cạnh 7,8 đất thuộc hành lang an toàn giao thông 8,10m; Cạnh 8, 3 giáp đất Lương Thị T1 41,86, cạnh 3, 4 giáp đất Lương Thị T1 380,64m; Cạnh 4,1 giáp đất Lương Thị T1 19,36m (Theo Tờ trích đo địa chính số TD 22-2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện U).

3. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà T1, anh H, chị K1 và chị H1 phải chịu án phí có giá ngạch là 25. 899.000 đồng và án phí dân sự không có giá ngạch là 300.000 đồng. Tổng số tiền án phí là 26.199.000 đồng.

Bà T1 được miễn toàn bộ án phí là 6.549.000 đồng.

Anh H, chị K1 và chị H1 phải liên đới chịu số tiền án phí còn lại là 19.650.000 đồng (mười chín triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng).

Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền tạm ứng án phí là 6.549.000 đồng (sáu triệu năm trăm bốn mươi chín nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004129 ngày 30/6/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.

Hoàn trả cho anh Quách Văn P và người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị Y số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000625 ngày 01/02/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.

Về chi phí tố tụng: Tiền định giá tài sản 6.000.000 đồng và trích đo địa chính (bản vẽ) là 3.418.910 đồng. Tổng chí phí là 9.418.910 đồng anh P và bà T1 cùng anh H, chị K1 và chị H1 mỗi bên phải chịu ½ chi phí tố tụng là 4.709.455 đồng. Anh P đã nộp xong toàn bộ chi phí nên bà T1 cùng anh H, chị K1 và chị H1 phải có trách nhiệm liên đới trả lại cho anh P số tiền 4.709.455 đồng (bốn triệu bảy trăm lẻ chín nghìn bốn trăm năm mươi lăm đồng).

4. Đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND huyện;
  • - Chi cục THA Dân sự huyện;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Cẩm Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/DS-ST ngày 01/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH THƯỢNG TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng chuyển nhượng qsd đất

  • Số bản án: 57/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng Và hợp đồng chuyển nhượng QSD đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/10/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH THƯỢNG TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp dồng tín dụng, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Nh và bà T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger