TAND HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG *** | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc *** |
Bản án số: 57/2024/HNGĐ - ST Ngày 30/9/2024 “V/v ly hôn giữa chị Vân và anh Minh”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Mạnh Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Lục Viết Sang
- 2. Bà Nguyễn Thị Cương
- Thư ký phiên tòa:
Bà Ngô Thị Mai, Thư ký Tòa án huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế tham gia phiên tòa:
Ông Ngô Đức Nghiêm - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thế xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 71/2024/TLST-HNGĐ ngày 22/5/2024 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 30/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2024/QĐST-DS ngày 16/9/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1994 (xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Vũ Đức M, sinh năm 1994 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn A, xã A, Y, Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn ghi ngày 12/4/2024 và bản ghi ý kiến ngày 01/7/2024, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị V trình bày: Chị kết hôn với anh Vũ Đức M năm 2015 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện Y. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng giữa năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do cách sống không hợp nhau, anh M thường xuyên rượu chè, cờ bạc, hai bên thường xuyên to tiếng, cãi cọ nhau. Từ đầu tháng 4/2024 đến nay, vợ chồng anh chị sống ly thân nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu được ly hôn với anh M.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 08/7/2024, bị đơn là anh Vũ Đức M thừa nhận thời gian và điều kiện kết hôn như chị V khai, đồng thời cũng thừa nhận thời điểm vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và nguyên nhân mâu thuẫn như chị V đã trình bày. Anh chị ly thân từ tháng 4/2024 và hiện không còn tình cảm với nhau, anh đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị V.
- - Về con chung: cả hai anh chị đều trình bày, vợ chồng có 02 con chung là Vũ Kiều D, sinh ngày 11/4/2016 và Vũ Thùy D1, sinh ngày 5/10/2018, hiện đang ở với chị V. Khi ly hôn, chị V yêu cầu nuôi cả hai, không yêu cầu cấp dưỡng. Anh M1 cũng nhất trí để cho chị V nuôi cả hai con chung.
- - Về tài sản chung, công nợ chung: Cả hai anh chị đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị V và bị đơn là anh Vũ Đức M đều vắng mặt (chị V có đơn xin xét xử vắng mặt).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế tham gia phiên toà nhận xét quá trình tiến hành tố tụng, xét xử vụ án, Toà án và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn có ý thức chấp hành pháp luật. Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016, xử:
- - Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị V được ly hôn với anh Vũ Đức M.
- - Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị V được trực tiếp nuôi cả hai con chung là Vũ Kiều D, sinh ngày 11/4/2016 và Vũ Thùy D1, sinh ngày 5/10/2018. Cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra.
- - Về án phí: Chị Nguyễn Thị V phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- - Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1].Về thẩm quyền: Anh Vũ Đức M cư trú trên địa bàn huyện Y, tỉnh Bắc Giang nên việc Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
- [2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Mặc dù nguyên đơn là chị Nguyễn Thị V và bị đơn là anh Vũ Đức M vắng mặt nhưng chị V có đơn xin xét xử vắng mặt, anh M đã được triệu tập đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên áp dụng khoản khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt các đương sự.
- [3]. Xem xét yêu cầu của chị Nguyễn Thị V xin ly hôn anh Vũ Đức M: Chị V và anh M kết hôn với nhau ngày 03/4/2015 dựa trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, mặc dù anh chị có thời gian dài chung sống hoà thuận và đã có hai con chung nhưng đến khoảng giữa năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng không còn hoà hợp, thường xảy ra to tiếng đánh, cãi nhau. Do không cải thiện được nên anh chị đã ly thân nhau từ tháng 4/2024. Nay chị V cương quyết xin ly hôn, anh M cũng không có nguyện vọng đoàn tụ mà đồng ý ly hôn. Vì vậy, xét mâu thuẫn vợ chồng giữa anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần áp dụng quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu của chị V, xử cho chị V được ly hôn anh M.
- [4]. Về con chung: Anh chị có 02 con chung là chung là Vũ Kiều D, sinh ngày 11/4/2016 và Vũ Thùy D1, sinh ngày 5/10/2018. Nay chị V yêu cầu nuôi cả hai con chung, anh M cũng đồng ý với yêu cầu của chị V, con chung của anh chị cũng có nguyện vọng được ở với mẹ, vì vậy, cần giao cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung là phù hợp quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chị V tự nguyện không yêu cầu nên nghĩa vụ này không đặt ra đối với anh M cho đến khi các đương sự có yêu cầu.
- [5]. Về tài sản, công nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- [6]. Về án phí: Chị V không thuộc trường hợp được miễn, giảm tiền án phí nên phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Số tiền tạm ứng án phí chị V đã nộp được khấu trừ vào tiền án phí chị V phải nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị V được ly hôn anh Vũ Đức M.
- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị V trực tiếp nuôi cả hai con chung là Vũ Kiều D, sinh ngày 11/4/2016 và Vũ Thùy D1, sinh ngày 5/10/2018. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con không đặt ra cho đến khi đương sự có yêu cầu.
- Án phí: Chị Nguyễn Thị V phải chịu 300.000đ án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ chị V đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0004934 ngày 16/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thế (xác nhận chị V đã nộp đủ tiền án phí).
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Chu Mạnh Hà |
Bản án số 57/2024/HNGĐ - ST ngày 30/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 57/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn Vân Minh
