|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 57/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26 -09 -2024 V/v: “tranh chấp chia tài sản chung, nợ chung sau ly hôn và hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thảo.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hạnh
2. Ông Bùi Tấn Khoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Chiêm Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Khánh Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 315/2020/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2020, về việc “tranh chấp chia tài sản chung, nợ chung sau ly hôn” và thụ lý yêu cầu độc lập số 275/2022/TBTA ngày 19/9/2022 về “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 08 năm 2024 và Quyết định xét xử bổ sung số 64/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 08 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số số 43/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 09 năm 2024, giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Ông Trịnh Văn B, sinh năm 1965.
Nơi cư trú: Thôn S, xã S, huyện B, tỉnh Bình Thuận
Địa chỉ liên hệ: Thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
-Bị đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1975
Nơi cư trú: Thôn S, xã S, huyện B, tỉnh Bình Thuận.
-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1/Ông Trịnh Văn N, sinh năm 1963
Địa chỉ: Thôn D, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận.
2/Anh Trịnh Đình Q, sinh năm 1996
Địa chỉ: Thôn S, xã S, huyện B, tỉnh Bình Thuận.
3/Ông Trần Văn S, sinh năm 1973
Địa chỉ: Thôn Vân Kiều, xã Cư Elang, huyện Eaka, tỉnh ĐắkLắk
4/Bà Phan Thị Ngọc H, sinh năm 1976
Địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện B, tỉnh Bình Thuận.
5/Ngân hàng nông nghiệp V
Đại diện theo ủy quyền: ông Trương Ngọc Quốc T-chức vụ: giám đốc chi nhánh L (vắng mặt)
(Quyết định ủy quyền số 2665/QĐ-NHNNo-PC ngày 01/12/2022 của Tổng giám đốc Ngân hàng V)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện ghi ngày 21/9/2020 và quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Trịnh Văn B trình bày: Năm 1995 ông Trịnh Văn B và bà Nguyễn Thị P có kết hôn với nhau. Trong quá trình chung sống vợ chồng có tạo lập tài sản chung và nợ chung như sau:
-Tài sản chung gồm:
- 01 căn nhà cấp 4 tọa lạc tại thôn S, xã S, huyện B, tỉnh Bình Thuận trên diện tích đất 160m² (đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).
- Diện tích 16.052,1m² đất tọa lạc tại thôn S, xã S, huyện B, tỉnh Bình Thuận (đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất)
- Diện tích 26.000m² đất tọa đất tọa lạc tại thôn S, xã S, huyện B, tỉnh Bình Thuận gồm đất trồng cây hàng năm và đất ruộng (chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).
-Về nợ chung: Nợ Ngân hàng V(A) tại chi nhánh L, B, Bình Thuận số tiền 170.000.000 đồng và nợ ông Trịnh Văn N do nhờ đứng tên vay giúp số 270.000.000₫ (Hai trăm bảy mươi triệu đồng). Tổng nợ gốc 440.000.000 đồng. Tháng 3 năm 2020 ông Trịnh Văn B và bà Nguyễn Thị P đã ly hôn theo Quyết định công nhận thỏa thuận số 166/2020/QĐST-HNGĐ ngày 05/8/2020.
-Về tài sản chung, nợ chung: Ông B và bà P tự thỏa thuận tại biên bản thỏa thuận phân chia tài sản ngày 28/7/2020 như sau:
- Ông B được nhận diện tích đất 8.640m² đất cây hàng năm khác) tại thôn S, xã S, huyện B, tỉnh Bình Thuận thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI708487 do UBND huyện B cấp ngày 30/3/2015 tên ông Trịnh Văn B và bà Nguyễn Thị P và diện tích đất khoảng 2 ha cây hàng năm khác chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất(đất này có nguồn gốc vợ chồng nhận sang nhượng của ông S và bà H)
- Phần tài sản còn lại giao cho bà Nguyễn Thị P toàn bộ đất ruộng thuộc các giấy chứng nhận số AÐ 788554; AÐ 788556; AÐ 788566; AÐ 788565; AÐ 788564; AÐ 788563; AÐ 788562; AÐ 788561; AÐ 788559; AÐ 788558; AÐ 788557; AÐ 788567; AÐ 788555; AÐ 755323 do UBND huyện B cấp tên Trịnh Văn B (đất ruộng tọa lạc tại thôn S, xã S, huyện B, Bình Thuận và nhận 1 căn nhà cấp 4 xây trên đất thổ cư diện tích 160m² chưa có giấy chứng nhận và 6000m² đất ruộng chưa có giấy chứng nhận.
Nguồn gốc tài sản do ông bà nhận sang nhượng và xây dựng nhà ở đến khi ly hôn.
Đối với vịt nuôi và bò hai bên đã thỏa thuận chia xong.
Về nợ của ông Trịnh Văn N và Ngân hàng A thỏa thuận giao ông B chịu trách nhiệm trả.
Sau khi lập thỏa thuận, ông B bán đất được nhận theo thỏa thuận để trả nợ thì bà P cản trở không cho thực hiện nên ông B yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung và nợ chung sau ly hôn giữa ông với bà P.
Ông B yêu cầu nhận toàn bộ đất ruộng đã có giấy chứng nhận và đất ruộng 6000m² chưa có giấy chứng nhận. Phần tài sản còn lại giao bà P nhận hoặc bà P nhận đất ruộng và toàn bộ tài sản nhà..xây trên đất, ông B nhận đất rẫy đã có sổ và chưa có sổ.
Về nợ yêu cầu chia đôi nghĩa vụ trả nợ 441.000.000 đồng.
*Bị đơn bà Nguyễn Thị P trình bày trong quá trình giải quyết vụ án như sau:
Bà P thống nhất về tài sản chung và nợ chung như ông B trình bày. Tuy nhiên, bà P không đồng ý chia theo thỏa thuận. Bà yêu cầu bà nhận tài sản nhà và đất ruộng đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Giao ông B nhận đất rẫy có giấy chứng nhận quyền sử dụng.
Đối với ruộng và rẫy chưa có giấy chứng nhận bà yêu cầu bà và các con được quyền sử dụng đất ruộng, ông B sử dụng đất rẫy để sau này thỏa thuận tính sau.
Về nợ ông B trả nợ Ngân hàng, bà P trả nợ cho ông N.
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trình bày: Ngân hàng V thống nhất về số nợ mà ông B và bà P khai nhưng do ông B và bà P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên ngày 19/9/2022 Ngân hàng yêu cầu khởi kiện độc lập buộc bà Nguyễn Thị P và ông Trịnh Văn B liên đới trả nợ vay cho ngân hàng theo hợp đồng vay số 4805LAV 201704971 với số dư nợ gốc là 168.355.000 đồng và lãi phát sinh là 51.893.566 đồng tính đến ngày 15/9/2022 và tiếp tục trả nợ gốc và lãi cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ. Nếu không trả được thì tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thuộc giấy chứng nhận số AÐ 788554; AÐ 788556; AÐ 788566; AÐ 788565; AÐ 788564; AÐ 788563; AÐ 788562; AÐ 788561; AÐ 788559; AÐ 788558; AÐ 788557; AÐ 788567; AÐ 788555; AÐ 755323 và BI 708487 sẽ phát mãi thi hành án theo hợp đồng đã thế chấp số LL20170823/TC ngày 23/8/2017.
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trịnh Văn N trình bày: Tại biên bản lấy lời khai ngày 06/01/2021 thống nhất về số nợ như ông B và bà P trình bày và yêu cầu ông B và bà P có nghĩa vụ chung trả nợ cho ông.
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trịnh Đình Q trình bày: Tại bản tự khai ngày 28/01/2021 đề nghị đất rẫy có diện tích 6 sào thuộc sổ BI 708487 chia ông B nhận. Đất rẫy không sổ để lại bà P và ông Q và em ông Q canh tác sử dụng sau này quyết định sau. Đối với đất ruộng có sổ và không sổ để lại bà P và các con canh tác sử dụng và tài sản cũng như nợ chung của cha mẹ chia đều cho các con.
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần A S1 và Phan Thị Ngọc H trình bày: Thống nhất về diện tích đất rẫy hiện nay ông B và bà P yêu cầu phân chia tài sản chung là do bà H và ông S1 sang nhượng lại cho vợ chồng ông B, bà P vào năm 2012. Do đất có phần có sổ và phần không sổ nên phần đất có giấy chứng nhận đã làm hợp đồng sang nhượng cho ông B và bà P đứng tên hiện nay là thuộc sổ BI 708487 do UBND huyện B cấp tên ông Trịnh Văn B ngày 30/3/2012. Phần đất còn lại bao quanh thửa đất không sổ nên làm giấy tay sang nhượng vào ngày 24/02/2012 và hai bên đã giao đất nhận tiền nên không tranh chấp và yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
-Ngày 10/10/2022 và ngày 26/10/2022 ông B thay đổi và rút một phần yêu cầu khởi kiện về nợ chung đối với nợ Ngân hàng A và nợ ông Trịnh Văn N. Vì sau khi Tòa án thụ lý vụ án và Ngân hàng khởi kiện, số nợ ông N đứng tên vay giúp vợ chồng ông có thế chấp tài sản của cha và nợ vay của A bà P không trả lãi ảnh hưởng nợ xấu nên ông B một mình thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng và ông N là 492.336.000 đồng nên yêu cầu bà P hoàn lại số tiền cho ông khi giải quyết chia tài sản là 246.168.000 đồng và đối với đất lúa chưa có giấy chứng nhận ông B không yêu cầu Tòa án giải quyết. Để sau này ông và bà P tính sau.
*Tại biên bản thẩm định tại chổ ngày 07/4/2022 và được thể hiện tại bản vẽ thẩm định tại chổ do Chi nhánh văn phòng Đ ngày 24/8/2022 và biên bản định giá tài sản ngày 07/4/2022 xác định tài sản chung vợ chồng sau ly hôn giữa ông Trịnh Văn B và bà Nguyễn Thị P như sau:
-Đất cây hàng năm khác (rẫy) thửa số 10, tờ bản đồ 03 diện tích 8.640m² thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 708487 UBND huyện B cấp tên ông Trịnh Văn B ngày 30/3/2012, giá trị thành tiền là 374.699.520 đồng.
- Đất ruộng đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng tổng diện tích 7412,1m² thuộc tờ bản đồ 32 gồm 14 thửa như sau: thửa 4 thuộc giấy chứng nhận AĐ 755323; thửa 5 thuộc giấy chứng nhận AĐ 788567; thửa 6 thuộc giấy chứng nhận AĐ 788566; thửa 7 thuộc giấy chứng nhận AĐ 788565; thửa 8 thuộc giấy chứng nhận AĐ 788564; thửa 9 thuộc giấy chứng nhận AĐ 788563; thửa 10 thuộc giấy chứng nhận AĐ 788562; thửa 12 thuộc giấy chứng nhận AĐ 788561; thửa 13 thuộc giấy chứng nhận AĐ 788559; thửa 14 thuộc giấy chứng nhận AĐ 788558; thửa 15 thuộc giấy chứng nhận AĐ 788557; thửa 16 thuộc giấy chứng nhận AĐ 788556, thửa 17 thuộc giấy chứng nhận AĐ 788555 và thửa 18 thuộc giấy chứng nhận AĐ 788554. Giá trị thành tiền là 418.475.592 đồng.
-Tài sản trên thửa đất số 4 và số 10 gồm: 1 căn nhà cấp 4 diện tích 126,3m² trị giá thành tiền là 181.872.000 đồng; 1 mái che diện tích 51,7m² và 1 mái che diện tích 220m² nền gạch ceramic diện tích 91,75m2 và nền bê tông xi măng có diện tích 103,2m2 gía trị thành tiền là 79.041.780 đồng. Tổng thành tiền là 260.913.780 đồng.
+ Đất rẫy hiện nay chưa có giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất diện tích 20052,1m² có giá trị là 869.615.136 đồng.
+Đất ruộng hiện nay chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng diện tích 7659,8m² thuộc các thửa 264, 272, 278, 282, 294, 311, 316, 338, 344, 352, 377 thuộc tờ bản đồ 32(DA 920). Tọa lạc đất tranh chấp thôn S, xã S, huyện B, tỉnh Bình Thuận, giá trị 368.895.968 đồng.
- Ngày 21/9/2022 ông Trịnh Văn N có đơn xin từ chối tham gia tố tụng vì nợ ông B đã trả nợ cho ông N.
-Ngày 19/9/2024 Ngân hàng V- đại diện theo ủy quyền là ông Trương Ngọc Quốc T giám đốc Chi nhánh L có đơn rút yêu cầu độc lập và đề nghị chấm dứt tư cách tham gia tố tụng của Ngân hàng V vì ông B đã trả nợ vay và hai bên đã tất toán hợp đồng tín dụng số 4805LAV 20170497.
*Tại phiên tòa: Ông Trịnh Văn B thay đổi yêu cầu khởi kiện chia tài sản chung vợ chồng sau ly hôn giữa ông với bà Nguyễn Thị P như sau: ông yêu cầu Tòa án giải quyết đối với đất rẫy đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng số BI 708487 là thửa 10 trị giá: 374.699.520 đồng và đất rẫy do ông B và bà P nhận sang nhượng từ ông Trần Văn S và bà Phan Thị Ngọc H ngày 24/02/2012 hiện nay đã thẩm định có diện tích 20052,1m² nằm ngoài giấy chứng nhận BI 708487 trị giá: 869.615.136 đồng; 14 (Mười bốn) thửa đất ruộng đã có giấy chứng nhận gồm:(4,5,6,7,8,9,10,12,13,14,15,16,17,18) trị giá là 418.475.592 đồng và tài sản gắn liền trên đất thuộc thửa 4 và thửa 10 là căn nhà cấp 4, hai mái che khung sắt tiền chế và hai sân gạch ceramic và bê tông xi măng trị giá 260.913.780 đồng. Ông B thống nhất theo biên bản thẩm định và định giá tài sản ngày 07/4/2022. Tổng trị giá tài sản yêu cầu tòa án chia là 1.923.704.028 đồng
+ Đối với đất ruộng là các thửa 264, 272 ,278, 282, 294, 311, 316, 338, 334, 352, 377 thuộc tờ bản đồ 32(DA 920) trị giá 368.895.968 đồng hiện nay chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông B rút yêu cầu, không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
+Về nợ chung: Ông Trịnh Văn B thay đổi yêu khởi kiện đối với số nợ chung 492.336.000 đồng hiện nay ông B đã thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng V –chi nhánh L và trả nợ cho ông Trịnh Văn N thay cho phần bà P là 246.168.000 đồng nên yêu cầu bà P hoàn lại cho ông tiền do ông đã thực hiện nghĩa vụ này khi chia tài sản chung là 246.168.000 đồng.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị P không đồng ý chia tài sản chung theo yêu cầu ông B và tại phiên tòa vắng mặt không có ý kiến bổ sung.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trịnh Đình Q ý kiến ông B và bà P chia quyền sử dụng đất cho ông và ông cùng cha mẹ thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng tại phiên tòa vắng mặt không có ý kiến gì.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ông S và bà H xin giải quyết vắng mặt, ý kiến về đất diện tích 20052,1m² do ông bà sang nhượng cho ông B và bà P năm 2012, ông bà đã nhận tiền và giao đất cho ông B và bà P nhận, không tranh chấp. Hiện nay đất chưa được cấp giấy chứng nhận cho ông B, bà P nên để nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ngân hàng V- do đại diện theo ủy quyền ông Trương Ngọc Quốc T có đơn xin rút yêu cầu phản tố và xin xử vắng mặt vì khoản nợ vay của ông B, bà P đã thực hiện trả nợ.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trịnh Văn N có đơn từ chối tham gia tố tụng vì xác nhận nay ông B đã trả nợ cho ông.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình phát biểu ý kiến đối với vụ án: Về việc tuân theo tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử Thư ký phiên tòa tuân theo đúng pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án; xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Về thời hạn giải quyết vụ án đúng theo quy định của pháp luật, tuy nhiên xử lý đơn thụ lý còn chậm.
Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 1, khoản 14 Điều 28, khoản 14 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 228 BLTTDS năm 2015; Điều 213, Điều 275, Điều 288 BLDS 2015; Điều 33, Điều 37, Điều 59, Điều 62 Luật HNGĐ năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Xác định tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân yêu cầu chia gồm:
- Diện tích 7.412,1m² đất trồng lúa thuộc các thửa 04, 05, 06, 07, 08, 09, 10, 12,13, 14, 15, 16, 17, 18 tờ bản đồ số 32 đã được cấp giấy CNQSDĐ số AÐ755323, AÐ788567, AÐ788566, AÐ788565, AÐ788564, AÐ788563, AÐ788562, AÐ788561, AÐ788559, AÐ788558, AÐ788557, AÐ788556, AÐ788555, AÐ788554 ngày 20/4/2006 tên Trịnh Văn B, tọa lạc tại thôn S, xã S, huyện B có giá 418.475.592 đồng
- Diện tích 8.640m² đất trồng cây hàng năm khác thuộc thuộc thửa số 10, tờ bản đồ số 03 theo giấy CNQSDĐ số BI 708487 cấp ngày 30/3/2012 đứng tên ông Trịnh Văn B và bà Nguyễn Thị P, tọa lạc tại thôn S, xã S, huyện B có giá 374.699.520 đồng.
- Diện tích 20.052,1m² đất trồng cây hàng năm khác thuộc thửa 387, tờ bản đồ số 38 chưa được cấp giấy CNQSDĐ tọa lạc tại thôn S, xã S, huyện B có giá 869.619.473 đồng.
- 01 căn nhà cấp 4B diện tích xây dựng 126,3m² và mái che khung sắt tiền chế xây trên thửa đất số 04 và số 10, tờ bản đồ số 32 thuộc giấy CNQSDĐ số AÐ755323 có giá 181.872.000 đồng + 16.515.000 đồng + 11.868.000 đồng + 21.111.720 đồng + 29.547.060 đồng = 260.913.780 đồng.
Tổng giá trị là: 1.923.704.028 đồng.
Chia giá trị ông Trịnh Văn B và bà Nguyễn Thị P mỗi người nhận một phần bằng nhau trị giá 961.852.014 đồng.
- Chia bằng hiện vật:
+ Giao ông Trịnh Văn B nhận diện tích 8.640m² đất trồng cây hàng năm khác thuộc thuộc thửa số 10, tờ bản đồ số 03 theo giấy CNQSDĐ số BI 708487 cấp ngày 30/3/2012 đứng tên ông Trịnh Văn B và bà Nguyễn Thị P, tọa lạc tại thôn S, xã S, huyện B trị giá 374.699.520 đồng và diện tích 20.052,1m² đất trồng cây hàng năm khác thuộc thửa 387, tờ bản đồ số 38 chưa được cấp giấy CNQSDĐ tọa lạc tại thôn S, xã S, huyện B trị giá 869.619.473 đồng, tổng giá trị là 1.244.146.656 đồng.
+ Giao bà Nguyễn Thị P nhận diện tích 7.412,1m² đất trồng lúa thuộc các thửa 04, 05, 06, 07, 08, 09, 10, 12,13, 14, 15, 16, 17, 18 tờ bản đồ số 32 đã được cấp giấy CNQSDĐ số AÐ755323, AÐ788567, AÐ788566, AÐ788565, AÐ788564, AÐ788563, AÐ788562, AÐ788561, AÐ788559, AÐ788558, AÐ788557, AÐ788556, AÐ788555, AÐ788554 ngày 20/4/2006 tên Trịnh Văn B, tọa lạc tại thôn S, xã S, huyện B có giá 424.819.360 đồng và 01 căn nhà cấp 4B diện tích xây dựng 126,3m² và mái che khung sắt tiền chế xây trên thửa đất số 04 và thửa số 10, tờ bản đồ số 32 thuộc giấy CNQSDĐ số AÐ755323 trị giá 260.913.780 đồng. Tổng giá trị là 679.398.372 đồng.
Ông Trịnh Văn B và bà Nguyễn Thị P có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định.
- Ông Trịnh Văn B có nghĩa vụ hoàn lại giá trị chênh lệch tài sản cho bà Nguyễn Thị P về phần tài sản là 282.462.642 đồng.
- Bà Nguyễn Thị P có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Trịnh Văn B số tiền 246.081.500 đồng.
Khấu trừ số tiền bà P phải hoàn trả cho ông B thì ông Trịnh Văn B còn phải hoàn lại cho bà Nguyễn Thị P số tiền 36.831.142 đồng.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu chia tài sản chung là quyền sử dụng diện tích 7.659,8m² đất trồng lúa chưa có giấy CNQSDĐ các thửa 264, 272, 278, 282, 294, 311, 316, 338, 344, 352, 377 tờ bản đồ số 32 tọa lạc tại thôn S, xã S, huyện B;
nợ Ngân hàng V theo hợp đồng tín dụng số 4805LAV201704971 số tiền 170.000.000 đồng; nợ ông Trịnh Văn N số tiền 271.000.000 đồng.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu độc lập của Ngân hàng V yêu cầu ông Trịnh Văn B và bà Nguyễn Thị P phải thanh toán nợ theo hợp đồng tín dụng số 4805LAV201704971 ngày 25/8/2017.
- Về án phí và chi phí tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Tòa án nhận định như sau:
[1]Về thủ tục tố tụng: Ông Trịnh Văn B khởi kiện yêu cầu giải quyết chia tài sản chung và nợ chung sau ly hôn giữa ông với bị đơn bà Nguyễn Thị P và tài sản tranh chấp là bất động sản tại thôn S, xã S, huyện B, tỉnh Bình Thuận nên Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình thụ lý là đúng quy định tại khoản 3, 14 Điều 26 và khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn S và bà Phan Thị Ngọc H và ông Trịnh Văn N, đại diện Ngân hàng V nhưng ông N, Ngân hàng, bà H, ông S đã đã có đơn đề nghị chấm dứt tham gia tố tụng, có đơn đề nghị xử vắng mặt. Đối với bị đơn Nguyễn Thị P và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trịnh Đình Q vắng mặt hai lần tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là phù hợp với điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa nguyên đơn ông B rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với nợ chung, tài sản chung là các thửa đất lúa 264, 272, 278, 282, 294, 311, 316, 338 ,344, 352, 377 tờ bản đồ 32(DA920) tổng diện tích 7659,8m² hiện nay chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và Ngân hàng V rút yêu cầu phản tố về tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng với nguyên đơn và bị đơn. Nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu về giải quyết nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết chia nợ chung giữa ông với bà P đối với khoản nợ vay của ngân hàng A theo hợp đồng vay 4805LAV 20170497 và nợ của ông Trịnh Văn N và yêu cầu bà P hoàn trả lại ½ số tiền nợ do ông đã thực hiện nghĩa vụ trả thay cho bà P là 246.168.000 đồng. Hội đồng xét xử xét việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông B đối với nợ chung, tài sản là quyền sử dụng đất và rút yêu cầu giải quyết về hợp đồng tín dụng này là hoàn toàn tự nguyện nên sẽ được đình chỉ theo quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự. Số tiền tạm ứng án phí đã nộp sẽ được hoàn lại và giải quyết theo quy định tại Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự. Đương sự có quyền khởi kiện lại theo quy định pháp luật. Đối với thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử xét thấy việc nguyên đơn thay đổi, bổ sung không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên căn cứ khoản 1 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự nên chấp nhận.
[2]Về nội dung khởi kiện:
[2.1] Đối với yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng sau ly hôn: quyền sử dụng đất gồm:
- Đất cây hàng năm khác (rẫy) thửa số 10, tờ bản đồ 03 diện tích 8.640m² thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 708487 UBND huyện B cấp tên ông Trịnh Văn B và Nguyễn Thị P ngày 30/3/2012
- Đất ruộng đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng tổng diện tích 7412,1m² thuộc tờ bản đồ 32 gồm 14 thửa như sau: thửa 4 thuộc giấy chứng nhận AĐ 755323; thửa 5 thuộc giấy chứng nhận AĐ 788567; thửa 6 thuộc giấy chứng nhận AĐ 788566; thửa 7 thuộc giấy chứng nhận AĐ 788565; thửa 8 thuộc giấy chứng nhận AĐ 788564; thửa 9 thuộc giấy chứng nhận AĐ 788563; thửa 10 thuộc giấy chứng nhận AĐ 788562; thửa 12 thuộc giấy chứng nhận AĐ 788561; thửa 13 thuộc giấy chứng nhận AĐ 788559; thửa 14 thuộc giấy chứng nhận AĐ 788558; thửa 15 thuộc giấy chứng nhận AĐ 788557; thửa 16 thuộc giấy chứng nhận AĐ 788556, thửa 17 thuộc giấy chứng nhận AĐ 788555 và thửa 18 thuộc giấy chứng nhận AĐ 788554.
- Đất rẫy ngoài giấy chứng nhận BI diện tích 20052,1m².
- Tài sản trên thửa đất số 4 và số 10 gồm: 1 căn nhà cấp 4 diện tích 126,3m²; 1 mái che diện tích 51,7m² và 1 mái che diện tích 220m² nền gạch ceramic diện tích 91,75m2 và nền bê tông xi măng có diện tích 103,2m².
Hội đồng xét xử xét thấy tại Quyết định Công nhận thỏa thuận thuận tình ly hôn số 166/2020/QĐST-HNGĐ ngày 05/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình có căn cứ xác định ông Trịnh Văn B và bà Nguyễn Thị P là vợ chồng và đã ly hôn từ ngày 5/8/2020. Khi ly hôn ông B và bà P tự thỏa thuận về tài sản, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, sau khi tự thỏa thuận về phân chia tài sản chung nợ chung giữa ông B và bà P thay đổi về thỏa thuận đó nên ông B yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung giữa vợ chồng là có căn cứ được quy định tại Điều 33; Điều 37 và Điều 59 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014. Bởi quyền sử dụng đất hiện nay ông Trịnh Văn B yêu cầu chia có nguồn gốc do ông B và bà P nhận chuyển nhượng (Công văn phúc đáp số 3853/ngày 25/11/2021 Chi nhánh văn phòng Đ) được UBND huyện B cấp quyền sử dụng cho ông B đứng tên đại diện, ông B thừa nhận là tài sản chung vợ chồng. Ngoài ra diện tích đất 20052,1m² hiện nay chưa cấp giấy chứng nhận nhưng bà P, ông B và ông S, bà H đều thừa nhận do vợ chồng ông B nhận sang nhượng từ vợ chồng bà H ông S năm 2012. Lời thừa nhận của đương sự phù hợp chứng cứ do ông B cung cấp là “giấy chuyển nhượng đất rẫy” ghi ngày 24/02/2012 và “hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” ngày 05/3/2012, lời khai của ông S, bà H (tại BL 95-96), biên bản xác minh tại UBND xã S (BL 213), văn bản số 252/UBND ngày 22/8/2023 của UBND xã S(BL 212), Công văn phúc đáp số 2654/UBND-SX ngày 09/9/2024 của Ủy ban nhân dân huyện B (BL 206), chứng cứ Chi nhánh văn phòng Đ cung cấp. Như vậy, quyền sử dụng đất 20052,1m² tại tọa độ điểm theo bản vẽ Thẩm định của chi nhánh Văn phòng Đ ngày 24/8/2022 hiện nay chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thửa số 10(tờ bản đồ 03), các thửa 4,5,5,7,8,9,10,12,13,14,15,16 17,18 (tờ bản đồ 32) đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc do ông B, bà P nhận chuyển nhượng trong thời kỳ hôn nhân nên là tài sản chung vợ chồng ông B và bà P. Hiện nay ông bà đã ly hôn, các con ông B và bà P đã trưởng thành có khả năng lao động (Căn cứ Quyết định ly hôn số166/2018/QĐ-HNGĐ-ST ngày 20/8/2018) nên ý kiến của bị đơn bà P không đồng ý chia tất cả tài sản chung do vợ chồng tạo lập mà yêu cầu giữ lại 1 phần đất hiện nay chưa có giấy chứng nhận là đất rẫy và đất ruộng sau này cùng các con giải quyết và tính sau nhưng không được ông B đồng ý là có căn cứ quy định tại Điều 29; Điều 59; Điều 62 Luật Hôn nhân và gia đình(HNGĐ) và Điều 213 Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015.
[2.2]Đối với tài sản gắn liền trên đất đã được thẩm định 07/4/2022 là 1 căn nhà cấp 4 B diện tích xây dụng 126,3m², 1 sân bê tông xi măng diện tích 103,2m², 1 nền lát gạch ceramic diện tích 91,75m² và 2 mái che khung sắt tiền chế được xây dựng gắn liền trên thửa đất số 4 và số 10, tờ bản đồ 32 ông B và bà P đều không có ý kiến gì khác, thừa nhận tài sản chung nên ông B yêu cầu chia là có căn cứ.
[2.3]Cách phân chia tài sản chung: Ông B yêu cầu nhận toàn bộ diện tích 8640m²(đất cây hàng năm khác) thửa đất số 10 tờ bản đồ số 3 đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 708487 và diện tích đất 20052,1m² đất nằm ngoài giấy chứng nhận BI 708487, hiện nay ông B chưa đăng ký cấp quyền sử dụng đất. Trị giá tài sản ông B yêu cầu nhận là 1.244.314.656 đồng. Giao bà P nhận toàn bộ diện tích 7.412,1m² đất lúa đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc các thửa 4,5,5,7,8,9,10,12,13,14,15,16 17,18 (tờ bản đồ 32) và toàn bộ tài sản gắn liền trên đất thửa số 4 và số 10 trị giá là 679.389.372 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy tổng giá trị tài sản vợ chồng sau khi ly hôn của ông B và bà P là 1.923.704.028 đồng, hiện nay bà P đã quản lý sử dụng đất ruộng và nhà ở, tài sản trên đất ruộng. Đối với đất rẫy ngoài giấy chứng nhận số BI 708487 bao quanh thửa đất thửa 10, UBND huyện B đã có văn bản phúc đáp diện tích 20052m² được xác định theo bản đồ địa chính là thuộc thửa 387, tờ bản đồ 38 đã quy chủ ông Trịnh Văn B theo nguồn gốc do cha mẹ ông Trần A S1 khai hoang năm 1994 cho lại con Trần A S1 và năm 2012 ông S1 và vợ là Phan Thị Ngọc H sang nhượng lại cho vợ chồng ông Trịnh Văn B, Nguyễn Thị P và căn cứ khoản 1 Điều 82 Nghị định 43/2014/NĐ- CP ngày 15/5/2014 và khoản 54 Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 và căn cứ khoản 1 Điều 42 Nghị định 101/2024/NĐ- CP ngày 29/7/2024 thì được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên Hội đồng xét xử xét cần đảm bảo ổn định cuộc sống và nhu cầu sử dụng đất của các bên phù hợp quy định của Luật đất đai nên chấp nhận phần chia tài sản chung cho bà P và ông B theo ý kiến trình bày của ông B. Tài sản chung mỗi người được chia như nhau nên bà P được nhận ½ tài sản trị giá là 961.852.014 đồng. Như vậy, theo yêu cầu ông B thì bà P nhận tài sản trị giá 679.389.372 đồng nên ông B phải hoàn lại giá trị tài sản nhận chênh lệch là 282.462.642 đồng là phù hợp quy định tại Điều 62 Luật hôn nhân và gia đình Điều 213 Bộ luật dân sự.
[3]Về yêu cầu bà P hoàn lại ông B 50% số nợ chung do ông đã thực hiện nghĩa vụ thay cho bà P: Ông Trịnh Văn B trình bày số nợ chung tại A ông đã thanh toán gốc và lãi là 222.163.033 đồng và nợ của ông Trịnh Văn N đã trả gốc là 270.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy đối với nợ A theo hợp đồng tín dụng 4805 LAV201704971 và nợ ông Trịnh Văn N gốc là 270.000.000 đồng đã được ông B và bà P thừa nhận đây là tình tiết không phải chứng minh. Hiện nay ông N và A đã thừa nhận không còn nợ và ông B đã cung cấp chứng cứ tất toán nợ theo các chứng từ thanh toán thể hiện tại các bút lục (BL 137-142) có trong hồ sơ vụ kiện thể hiện người thanh toán nợ là ông Trịnh Văn B và và nợ hiện nay ông B đã thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng V – chi nhánh L và trả nợ cho ông Trịnh Văn N tổng số tiền 492.163.033 đồng nên ông B có quyền yêu cầu bà P hoàn lại số tiền ông đã thực hiện nghĩa vụ thay cho bà P 246.081.500 đồng là có căn cứ quy định tại Điều 275 Bộ luật dân sự.
[4] Đối với trình bày của người liên quan Trịnh Đình Q ý kiến về tài sản chung của ông B và bà P yêu cầu ông B, bà P và ông Q cùng các em ông chịu trách nhiệm chung về nghĩa vụ trả nợ và tài sản chung được chia cho ông Q và tại phiên tòa ông Q vắng mặt lần thứ hai. Hội đồng xét xử thấy nợ và tài sản chung là của ông B và bà P nên ông B và bà P có quyền thỏa thuận và có nghĩa vụ thực hiện và hiện nay nợ ông B đã thanh toán nên ý kiến của anh Q không được ông B đồng ý là có căn cứ.
[5] Về chi phí tố tụng thẩm định và định giá tài sản: Đối với chi phí định giá và thẩm định tại chỗ là 20.228.000 đồng, ông Trịnh Văn B đã nộp đủ tiền tạm ứng nên bà P phải hoàn lại ông B 10.114.000 đồng là phù hợp quy định tại Điều 165 và Điều 157 BLTTDS.
[6] Về án phí: Ông Trịnh Văn B và bà Nguyễn Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Đối với yêu cầu của A đã rút yêu cầu phản tố nên hoàn lại tiền tạm ứng A đã nộp.
[8]Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đối với vụ án phù hợp với nhận định của Tòa án nên chấp nhận
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Khoản 3, 14 Điều 26; Khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 165; Điều 157; Điều 158; Điều 244; Điều 218; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- Điều 29; Điều 59; Điều 62; Điều 33; Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Điều 213; Điều 275 Bộ luật Dân sự.
- Điều 26 và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Trịnh Văn B và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ngân hàng V.
- Đình chỉ xét xử chia tài sản chung và nợ chung của nguyên đơn ông Trịnh Văn B đối với các thửa đất 264, 272, 278, 282, 294, 311, 316, 338 ,344, 352, 377 tờ bản đồ 32(DA920) chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và khoản nợ 270.000.000 đồng của ông Trịnh Văn N và của Ngân hàng V-Chi nhánh L.
- Đình chỉ xét xử yêu cầu độc lập của Ngân hàng V đối với khoản nợ của hợp đồng tín dụng số 4805LAV 201704971 giữa ông Trịnh Văn B và bà Nguyễn Thị P.
Các đương sự có quyền yêu cầu khởi kiện lại đối với yêu cầu đã đình chỉ theo quy định pháp luật.
- Chia tài sản chung vợ chồng sau ly hôn giữa ông Trịnh Văn B với bà Nguyễn Thị P, tổng giá trị tài sản là 1.923.704.028 đồng(Một tỷ chín trăm hai mươi ba triệu, bảy trăm lẻ bốn nghìn không trăm hai mươi tám đồng).
- - Giao ông Trịnh Văn B được nhận quyền sử dụng đất và sở hữu tài sản gồm 02 thửa đất: Thửa đất số 10, tờ bản đồ số 3 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 708487 do UBND huyện B cấp quyền sử dụng tên Trịnh Văn B và bà Nguyễn Thị P ngày 30/3/2012 và thửa đất số 387, tờ bản đồ 38 chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tọa lạc đất tại thôn S, xã S, huyện B, tỉnh Bình Thuận theo tọa độ kèm theo bản vẽ thẩm định của Chi nhánh văn phòng Đ ngày 24/8/2022).
- Tổng giá trị tài sản là 1.244.314.656 đồng.
- - Giao bà Nguyễn Thị P được nhận quyền sử dụng đất và sở hữu tài sản trên đất gồm:
- + Thửa 4 thuộc giấy chứng nhận AĐ 755323;
- + Thửa 5 thuộc giấy chứng nhận AĐ 788567;
- + Thửa 6 thuộc giấy chứng nhận AĐ 788566;
- + Thửa 7 thuộc giấy chứng nhận AĐ 788565;
- + Thửa 8 thuộc giấy chứng nhận AĐ 788564;
- + Thửa 9 thuộc giấy chứng nhận AĐ 788563;
- + Thửa 10 thuộc giấy chứng nhận AĐ 788562;
- + Thửa 12 thuộc giấy chứng nhận AĐ 788561;
- + Thửa 13 thuộc giấy chứng nhận AĐ 788559;
- + Thửa 14 thuộc giấy chứng nhận AĐ 788558;
- + Thửa 15 thuộc giấy chứng nhận AĐ 788557;
- + Thửa 16 thuộc giấy chứng nhận AĐ 788556;
- + Thửa 17 thuộc giấy chứng nhận AĐ 788555
- + Thửa 18 thuộc giấy chứng nhận AĐ 788554.
- + 1(Một) căn nhà cấp 4 diện tích 126,3m²; một mái che diện tích 51,7m² và một mái che diện tích 220m² nền gạch ceramic diện tích 91,75m² và nền bê tông xi măng có diện tích 103,2m². Tài sản được xây dựng trên thửa đất số 4 và số 10. Các thửa đất thuộc tờ bản đồ 32, tọa lạc thôn S, xã S, huyện B, tỉnh Bình Thuận (theo bản vẽ thẩm định của Chi nhánh văn phòng Đ ngày 24/8/2022).
- Tổng giá trị tài sản được nhận là 679.389.372 đồng.
- Ông Trịnh Văn B và bà Nguyễn Thị P có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền đăng ký quyền sử dụng đất được giao theo quy định của pháp luật.
- Ông Trịnh Văn B phải hoàn lại bà Nguyễn Thị P tiền nhận chênh lệch tài sản là 282.462.642 đồng.
- Bà Nguyễn Thị P phải hoàn lại tiền cho ông B đã thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bà P số tiền 246.081.500 đồng, khấu trừ nghĩa vụ nhận tài sản và nợ giữa ông B và bà P, ông B còn phải hoàn lại bà P là 36.381.142 đồng.
- Chi phí thẩm định tại chổ và định giá tài sản: Ông Trịnh Văn B và bà Nguyễn Thị P phải chịu nộp tiền chi phí thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản là 20.228.000 đồng. Ông B đã nộp đủ nên Bà P phải hoàn lại ông B 10.114.000(Mười triệu một trăm mười bốn nghìn) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án, nếu bên phải thi hành án chưa thi hành xong khoản tiền phải thi hành thì phải chịu khoản tiền lãi theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự ; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Án phí:
- - Ông Trịnh Văn B phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về chia tài sản chung là 40.855.560 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí ông B đã nộp 15.625.000 đồng theo biên lại thu số 0006559 ngày 26/10/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Bình. Ông B còn phải nộp thêm là 25.230.488 đồng.
- - Bà Nguyễn Thị P phải nộp án phí dân sự sơ thẩm 48.238.000 đồng
- - Trả lại tiền tạm ứng án phí cho ngân hàng V do đại diện chi nhánh A đã nộp là 5.500.000 đồng theo biên lại thu số 0002518 ngày 19/9/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Bình.
- Quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận: -Các đương sự -VKS Bắc Bình -Lưu HSVA |
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Thanh Thảo |
Bản án số 57/2024/HNGĐ-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp chia tài sản chung, nợ chung sau ly hôn và hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 57/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp chia tài sản chung, nợ chung sau ly hôn và hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, đình chỉ yêu cầu độc lập của ngân hàng
