|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 57/2024/HS-ST
Ngày 13 tháng 9 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Diệu
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Võ Duy Loan
Ông Trần Minh Hiếu
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Trung, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Mỹ Tiên-Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 48/2024/TLST-HS, ngày 22 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST-HS, ngày 30 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Trần Đăng K; Sinh ngày 26 tháng 9 năm 1986; Nơi sinh: Huyện K, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú và chỗ ở: Ấp I, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: Lớp 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị N; Có vợ tên Lê Thị Hoàng M và 02 người con sinh năm 2007 và 2021; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Công ty Cổ phần T, địa chỉ: A T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Huỳnh Văn N1, chức vụ: Nhân viên Công ty Cổ phần T, địa điểm kinh doanh Chi nhánh Công ty Cổ phần T, địa chỉ: Thửa đất số 55, tờ bản đồ số 74, ấp N, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, địa chỉ thường trú: Ấp D, xã B, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (theo Giấy ủy quyền số 346/2022/TGDÐ/UQ ngày 11/8/2022 của Tổng Giám đốc kiêm đại diện pháp luật Công ty Cổ phần T và Giấy ủy quyền số 001/GĐCN_TGDĐ, ngày 03/6/2024 của Giám đốc Chi nhánh Công ty Cổ phần T (có đơn vắng mặt phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 14/5/2024 Trần Đăng K đi đến cửa hàng Đ để sửa điện thoại của K, khi đến cửa hàng thì K đi vào gặp anh Huỳnh Văn N1 là nhân viên của cửa hàng Điện máy xanh, K đưa điện thoại di động của K cho anh N1 để sửa, sau khi nhân viên cửa hàng kiểm tra điện thoại thì anh N1 kêu K phải chạy phần mềm lại, lúc này K nói không có thời gian ngồi đợi nên anh N1 mới đưa điện thoại trả lại cho K, sau đó K đi ra trước cửa hàng để nghe điện thoại nhưng do trời nóng nên K mở cửa đi vào bên trong cửa hàng, khi đi vào thì K nhìn thấy 01 chiếc điện thoại di động hiệu HONOR, X8b (8+512GB), màu bạc của Điện máy xanh để trên cây quạt gió đứng ở gần cửa ra vào của hàng, không thấy có người trông coi nên K nảy sinh ý định lấy trộm điện thoại để sử dụng, lúc này K vừa nghe điện thoại vừa đi lại chỗ quạt gió có chiếc điện thoại rồi K chuyển điện thoại đang nghe sang tay trái để cầm điện thoại nghe còn tay phải K lấy điện thoại của cửa hàng bỏ vào túi quần, sau khi lấy trộm được chiếc điện thoại thì K ra về. Sau đó anh N1 phát hiện chiếc điện thoại di động hiệu HONOR của cửa hàng Điện máy xanh để trên cây quạt gió đứng bị mất nên trình báo sự việc đến Công an xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. Cơ quan Công an mời Khoa làm việc thì K đã khai nhận hành vi lấy trộm điện thoại di động hiệu HONOR X8b (8+512GB), màu bạc ở cửa hàng Điện máy xanh và giao nộp lại điện thoại di động đã lấy trộm.
Tại Bản kết luận định giá số 22 ngày 10/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện K Kết luận: 01 điện thoại di động hiệu HONOR X8b (8+512GB), màu bạc, giá trị còn lại theo Thông tư số 23/2023/TT-BTC, ngày 25/4/2023 là 99,67%, thành tiền là 7.664.623 đồng (7.690.000 đồng x 99,67%).
Trên cơ sở kết quả điều tra cùng những tài liệu, chứng cứ thu được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Trần Đăng K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng số 55/CT-VKS-KS, ngày 22/8/2024 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng nhận định hành vi của Trần Đăng K thuộc trường hợp lén lút lấy tài sản của người khác có giá trị là 7.664.623 đồng nên phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự và quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng để xét xử Trần Đăng K về tội này.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố theo bản Cáo trạng; đồng thời phân tích, đánh giá tính chất, mức độ, động cơ phạm tội của bị cáo, cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Trần Đăng K phạm tội Trộm cắp tài sản, xử phạt bị cáo với mức án từ 06 tháng đến 01 năm tù; về trách nhiệm dân sự do bị hại đã được nhận lại tài sản bị mất là điện thoại di động và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét; về vật chứng đang tạm giữ đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo là đã thấy được việc làm của mình khi thực hiện các hành vi đã được phân tích tại phiên tòa là vi phạm pháp luật, xin được giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, vắng mặt bị hại nhưng người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, xét thấy sự vắng mặt của bị hại không gây trở ngại cho việc xét xử, nên căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và đương sự trong vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Xét về hành vi phạm tội của bị cáo theo Cáo trạng truy tố về tội “Trộm cắp tài sản”, tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; cụ thể là bị cáo thừa nhận đã có hành vi lén lút lấy trộm tài sản là điện thoại di động tại Cửa hàng Đ có giá trị 7.664.623 đồng nhằm mục đích để sử dụng cá nhân. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội ở địa phương. Vì vậy, việc Viện Kiểm sát truy tố ra trước Tòa án để xét xử bị cáo Trần Đăng K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định:
“Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
- Đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội được quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
- Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
- Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;
- Tài sản là di vật, cổ vật”.
[5] Xét thấy bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì chỉ muốn hưởng thụ thành quả lao động của người khác và xem thường sự trừng phạt của pháp luật, nên bị cáo đã thực hiện các hành vi phạm tội nêu trên. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội sau này và đồng thời cũng nhằm để răn đe, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[6] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, nhân thân tốt, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, tài sản bị cáo lấy trộm đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu nên được coi là chưa gây thiệt hại, ngoài ra xét bị cáo xét bị cáo đang còn trách nhiệm nuôi con nhỏ, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[8] Vật chứng của vụ án còn đang tạm giữ là 01 áo sơ mi dài tay (màu xanh, đã qua sử dụng) và 01 quần sọt Jean (màu xanh, đã qua sử dụng) là sở hữu của bị cáo nhưng bị cáo cho biết không còn nhu cầu sử dụng và không muốn nhận lại, nên căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu và tiêu hủy.
[9] Về án phí: Người bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, Điều 65, 47, điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 136, 292, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP, ngày 15/4/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Tuyên bố bị cáo Trần Đăng K phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt Trần Đăng K 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án ngày 13/9/2024 và thực hiện nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Giao cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách; trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
- Về vật chứng theo Biên bản giao vật chứng, tài sản ngày 26/8/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Sóc Trăng với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, được xử lý như sau: Tịch thu tiêu hủy 01 áo sơ mi dài tay (màu xanh, đã qua sử dụng) và 01 quần sọt Jean (màu xanh, đã qua sử dụng).
- Về án phí: Buộc bị cáo Trần Đăng K phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo và đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ đối với người vắng mặt, theo quy định tại các Điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Diệu |
Bản án số 57/2024/HS-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 57/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Đăng K phạm tội Trộm cắp tài sản, xử phạt 6 tháng tù cho hưởng án treo
