TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 57/2024/HS-ST Ngày: 13 – 9 – 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Ngọc Nghĩa.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Mai Thương.
Ông Lưu Trọng Kim.
- Thư ký phiên toà: Ông Tô Văn Liên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Cao Quốc Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:
Cao Minh Â, sinh năm 2000 tại Bình Thuận;
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Khu phố E, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cao Minh H, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1969; Gia đình có 4 anh em, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; chưa có vợ, con.
Tiền án: không; Tiền sự: không.
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 03/11/2023 đến ngày 09/11/2023. Hiện đang tại ngoại theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
Cao Minh T, sinh năm 1991 tại Bình Thuận;
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Khu phố E, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cao Minh H, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1969; Gia đình có 4 anh em, bị cáo là con thứ
hai trong gia đình; có vợ là Phạm Thị Bích D, sinh năm 1993; có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017.
Tiền án: không; Tiền sự: không.
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 03/11/2023 đến ngày 09/11/2023. Hiện đang tại ngoại theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
Trịnh Thanh P, sinh năm 1980 tại Bình Thuận;
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Khu phố G, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trịnh Thanh M (Đã chết) và bà Trần Thị Xuân H2, sinh năm 1954; Gia đình có 4 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; có vợ là Trương Thị Ngọc T1, sinh năm 1984; có 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2013.
Tiền án: không; Tiền sự: không.
Nhân thân: Năm 2006, bị Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận xử phạt 12 tháng tù về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản. Chấp hành xong hình phạt ngày 08/5/2008.
Bị cáo hiện đang tại ngoại theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 02/11/2023, tại ấp A, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, Công an huyện Đ bắt quả tang Bùi Công H3 sinh năm: 1989 trú tại khu phố F, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua điều tra, Công an huyện Đ phát hiện Cao Minh  (đi cùng trên xe với Bùi Công H3) và Cao Minh T đã có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền với hình thức đánh số đề, cụ thể:
Ngày 28/10/2023, Cao Minh  đang ở nhà thì có người bạn tên Tí C (không xác định được nhân thân, lai lịch) đến chơi. Tại đây Tí Công nhờ  ghi dùm số đề con số 41 bao lô 500.000 đồng với tổng số tiền 7.000.000 đồng theo kết quả xổ số của công ty xổ số kiến thiết tỉnh L thì  đồng ý. Sau đó,  sử dụng điện thoại di động số 0348.051.xxx của mình nhắn tin qua số điện thoại 0946.728.xxx của Cao Minh T để ghi số đề với nội dung bao lô số 41 theo kết quả xổ số của công ty xổ số kiến thiết tỉnh L mỗi con 500.000 đồng với tổng số tiền cá cược là 7.000.000 đồng thì T đồng ý. Khoảng 15 giờ cùng ngày, T đến nhà Trịnh Thanh P ngồi chơi, uống cà phê. Trong lúc nói chuyện, T hỏi P có nhận ghi đề không thì P đồng ý. T đánh bao lô số 41 đài
Long An 500.000 đồng (tổng số tiền cá cược là 7.000.000 đồng) nhưng cho T nợ, chuyển khoản sau, P đồng ý. Sau khi có kết quả xổ số đài Long An, Â và T thua cược. Ngày 29/10/2023, Â dùng tài khoản ngân hàng của mình số 1600205356986 thông qua ứng dụng Internet Banking chuyển vào tài khoản ngân hàng A số 4813205497950 của T số tiền 6.900.000 đồng và gặp đưa trực tiếp cho T số tiền 100.000 đồng còn lại. Cùng ngày, T dùng tài khoản A số 4813205497950 của mình thông qua ứng dụng Internet Banking chuyển vào tài khoản số 4813205085414 của P số tiền 7.000.000 đồng. Sau đó vài ngày, P có đưa cho T số tiền 200.000 đồng.
Cao Minh  và Cao Minh T còn khai nhận vào ngày 28/9/2023,  sử dụng điện thoại di động của mình số 0348.051.021 gọi cho T qua số 0946.728.048 của T đánh đề theo kết quả xổ số kiến thiết Miền B với nội dung là  bao lô hai số 49 và 94 mỗi con 20.000 đồng, tổng số tiền cá cược là 880.000 đồng. Kết quả,  thua cược nên đã dùng tài khoản ngân hàng của mình số 1600205356986 thông qua ứng dụng Internet Banking chuyển vào tài khoản A số 4813205497950 của T số tiền 880.000 đồng. T khai nhận ngày 28/09/2023, T đánh bạc với P, T thua cược nên đưa tiền mặt 880.000 đồng trực tiếp cho P nhưng P không thừa nhận nội dung này.
Với những tình tiết nêu trên tại Cáo trạng số 51/CT-VKSĐL-HS ngày 29/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh đã truy tố bị cáo Cao Minh Â, Cao Minh T, Trịnh Thanh P về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Cao Minh Â, Cao Minh T, Trịnh Thanh P thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện VKSND huyện Đức Linh giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Cao Minh Â, Cao Minh T, Trịnh Thanh P phạm tội “Đánh bạc"
- Về hình phạt:
+ Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Phạt tiền bị cáo Cao Minh  từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Phạt tiền bị cáo Cao Minh T từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Phạt tiền bị cáo Trịnh Thanh P từ 35.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị về xử lý vật chứng, án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo T, Â không trình bày lời sau cùng.
Bị cáo P nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận ra lỗi lầm của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức tiền phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, có mặt tất cả những người tham gia tố tụng được Toà án triệu tập.
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản sự việc; biên bản kiểm tra điện thoại; biên bản đối chất và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở xác định:
[2.1] Về hành vi phạm tội:
Ngày 28/9/2023, Cao Minh  và Cao Minh T đánh bạc bằng hình thức ghi số đề bao lô con số 49 và 94 mỗi con 20.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc là 880.000 đồng theo kết quả xổ số kiến thiết Miền B.
Ngày 28/10/2023, Cao Minh  đánh bạc với Cao Minh T và Cao Minh T đánh bạc với Trịnh Thanh P bằng hình thức ghi số đề bao lô con số 41 500.000 đồng với tổng số tiền 7.000.000 đồng theo kết quả xổ số của công ty xổ số kiến thiết tỉnh L.  dùng tài khoản ngân hàng A1 chuyển vào tài khoản ngân hàng 4813205497950 của T số tiền 6.900.000 đồng và đưa trực tiếp cho T số tiền 100.000 đồng. T dùng tài khoản ngân hàng D1 chuyển vào tài khoản ngân hàng 4813205085414 của P số tiền 7.000.000 đồng. Tất cả các giao dịch chuyển khoản giữa  và T, giữa T và P đều được thực hiện vào ngày 29/10/2023.
[2.2] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo biết rằng đánh bạc là một trong những tệ nạn xã hội và Nhà nước chủ trương xóa bỏ vì nó xâm phạm đến trật tự quản lý công cộng, làm ảnh hưởng đến sinh hoạt bình thường của gia đình và xã hội, đồng thời còn là mầm mống dẫn đến các tệ nạn xã hội khác nhưng vì muốn có tiền tiêu xài, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người và đúng tội.
[2.3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Riêng bị cáo Cao Minh Â, Cao Minh T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo T, P đã tự nguyện nộp tiền thu lợi bất chính, bị cáo T là lao động chính trong gia đình nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Về nhân thân: Bị cáo Â, T có nhân thân tốt. Bị cáo P đã từng bị kết án.
[2.4] Về vai trò của các bị cáo: Bị cáo P là người trực tiếp nhận đánh bạc, thu lợi từ việc đánh bạc, đã từng bị kết án nên mức án đối với bị cáo là cao nhất. Bị cáo  là người trực tiếp bỏ tiền đánh bạc nên mức án là cao thứ hai. Bị cáo T là người nhận và đánh bạc dùm bị cáo  nên mức án là nhẹ nhất.
[2.5] Về hình phạt chính: Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy, các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tội phạm mang tính chất vụ lợi, nhiều tính tiết giảm nhẹ, xét nghĩ không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, chỉ cần phạt tiền là đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo là phù hợp với quy định tại Điều 31, 35 và 321 của Bộ luật Hình sự, nhằm thể hiện tính nhân đạo và chính sách khoan hồng của pháp luật.
[2.5] Về hình phạt bổ sung: Đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không cần thiết phải phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo.
[3] Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, số sim 0348051021 là của Cao Minh  và 01 điện thoại di động hiệu Vivo 1906, số sim 0946728048 là của Cao Minh T đây là công cụ dùng để thực hiện hành vi phạm tội, cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
- Buộc bị cáo Cao Minh T phải nộp khoản thu lợi bất chính là 1.080.000 đồng (Trong đó, 880.000 là tiền ăn đánh bạc ngày 28/9/2023 và 200.000 đồng là tiền được bị cáo P cho lại) vào ngân sách nhà nước.
- Buộc bị cáo Trịnh Thanh P phải nộp khoản thu lợi bất chính là 7.000.000 đồng vào ngân sách nhà nước.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 1.080.000 đồng do bị cáo Cao Minh T đã tự nguyện nộp và số tiền 7.000.000 đồng do bị cáo Trịnh Thanh P đã tự nguyện nộp tại chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh.
[5] Đối với người tên Tí C và người tên Á, Cơ quan cảnh sát điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch, không làm việc được nên chưa có căn cứ xử lý là phù hợp.
[6] Xét các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, áp dụng điều luật, xử lý vật chứng là có căn cứ nên cần chấp nhận. Tuy nhiên, về mức hình phạt tiền đề nghị áp dụng đối với bị cáo P của Kiểm sát viên là hơi nặng nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt áp dụng cho bị cáo.
[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[8] Về án phí: Các bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Tuyên bố bị cáo Cao Minh  phạm tội “Đánh bạc”.
Phạt tiền bị cáo Cao Minh  số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) để nộp vào ngân sách nhà nước.
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Tuyên bố bị cáo Cao Minh T phạm tội “Đánh bạc”.
Phạt tiền bị cáo Cao Minh T số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) để nộp vào ngân sách nhà nước.
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Tuyên bố bị cáo Trịnh Thanh P phạm tội “Đánh bạc”.
Phạt tiền bị cáo Trịnh Thanh P số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) để nộp vào ngân sách nhà nước.
Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, số sim 0348051021 và 01 điện thoại di động hiệu Vivo 1906, số sim 0946728048.
(Các vật chứng trên đang lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 30/7/2024)
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- Buộc bị cáo Cao Minh T phải nộp khoản thu lợi bất chính là 1.080.000 đồng (Một triệu không trăm tám mươi nghìn đồng) vào ngân sách nhà nước.
- Buộc bị cáo Trịnh Thanh P phải nộp khoản thu lợi bất chính là 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) vào ngân sách nhà nước.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 1.080.000 đồng do bị cáo Cao Minh T đã nộp tại chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh theo biên lai thu tiền số 0001687 ngày 10/9/2024 và số tiền 7.000.000 đồng do bị cáo Trịnh Thanh P đã tự nguyện nộp chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh theo biên lai thu tiền số 0001686 ngày 04/9/2024 để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Buộc bị cáo Cao Minh Â, Cao Minh T, Trịnh Thanh P mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 13/9/2024).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Ngọc Nghĩa |
Bản án số 57/2024/HS-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về đánh bạc
- Số bản án: 57/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cao Minh Ân và đồng phạm "Đánh bạc"
