Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LÂM HÀ

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2024/HS-ST

Ngày: 19/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trung Kiên

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông K'Dung.
  2. Bà Lài Thị Thu Hà.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Rung K' Tuấn – Là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 45/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Phùng Thị M – Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1972. Tại: Hà Nội. Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 4/12; Nghề nghiệp: Làm nông; con ông Phùng Văn T (đã chết) và bà Đinh Thị H (đã chết); có chồng là Đinh Văn B và có 02 (hai) con; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 26/6/2020, bị Công an huyện L, tỉnh Lâm Đồng xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc. Bị cáo được điều tra tại ngoại. Có mặt.
  2. Họ và tên: Đinh Văn B – Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1971. Tại: Hà Nội; Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 5/10; Nghề nghiệp: Làm nông; con ông Đinh Văn H1 (đã chết) và bà Hoàng Thị C; có vợ là Phùng Thị M và có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được điều tra tại ngoại. Có mặt
  3. Họ và tên: Nguyễn Hữu H2 – Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1988. Tại: Lâm Đồng. Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Làm nông; con ông Nguyễn Hữu C1 và bà Phùng Thị T1; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được điều tra tại ngoại. Có mặt
  4. Họ và tên: Huỳnh Nguyễn T2 – Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1978. Tại: Lâm Đồng. Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Nghề nghiệp: Phụ hồ; con ông Nguyễn Văn N (đã chết) và bà Nguyễn Thị X; có vợ là Lê Thị Tý T3 và có 03 con; Tiền án: Ngày 26/11/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xử phạt tiền 40.000.000 đồng sung công quỹ nhà nước về tội đánh bạc theo Bản án số 86/2019/HSST; Tiền sự: Không. Bị cáo được điều tra tại ngoại. Có mặt
  5. Họ và tên: Nguyễn Văn C2 – Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1982. Tại: Hà Nội. Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Nghề nghiệp: Làm nông; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Phùng Thị L; có vợ là Đặng Thị H3 và có 03 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được điều tra tại ngoại. Có mặt.
  6. Họ và tên: Nguyễn Thị H4 – Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1977. Tại: Thanh Hóa. Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ văn hóa: 01/12; Nghề nghiệp: Làm nông; con ông Nguyễn Văn S và bà Vũ Thị T4; có chồng là Nguyễn Văn H5 và có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được điều tra tại ngoại. Có mặt
  7. Họ và tên: Phùng Thị L – Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1959. Tại: Hà Nội. Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 8/10; Nghề nghiệp: Làm nông; con ông Phùng Văn T (đã chết) và bà Đinh Thị H (đã chết); có chồng là Nguyễn Văn Đ và có 04 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được điều tra tại ngoại. Có mặt.
  8. Họ và tên: Nguyễn Văn H5 – Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1979. Tại: Hà Nội. Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công Giáo; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Làm nông; con ông Nguyễn Đức H6 và bà Đỗ Thị C3; có vợ là Nguyễn Thị H4 và có 02 con. Bị cáo được điều tra tại ngoại. Có mặt.
  9. Họ và tên: Hoàng Văn H7 – Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1963. Tại: Hà Nội. Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: 7/12; Nghề nghiệp: Làm nông; con ông Hoàng Văn N1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T5 (đã chết); có vợ là Hoàng Thị T6 và có 03 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được điều tra tại ngoại. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 27/09/2023, các đối tượng gồm Nguyễn Hữu H2, sinh năm 1988; Hoàng Văn H7, sinh năm 1963; Phùng Thị L, sinh năm 1959; Nguyễn Văn C2, sinh năm 1982, cùng cư trú: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; Huỳnh Nguyễn T2, sinh năm 1978, nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; Nguyễn Văn H5, sinh năm 1979; Nguyễn Thị H4, sinh năm 1977, cùng cư trú: thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng đến nhà của vợ chồng ông Đinh Văn B, sinh năm 1971, bà Phùng Thị M, sinh năm 1972 thuộc thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng chơi và uống nước. Một lúc sau thì tất cả 09 đối tượng trên cùng rủ nhau đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh cào tố (Liêng). Lúc này, bà Phùng Thị M đi mua 01 (một) bộ bài tú lơ khơ để cả nhóm cùng sử dụng đánh bạc và dẫn mọi người xuống phòng ngủ phía trong nhà của bà M để tham gia đánh bạc. Đến 17 giờ 30 phút cùng ngày cả nhóm đang tham gia chơi được khoảng hơn 30 phút thì bị Công an huyện L đến kiểm tra, phát hiện, lập biên bản ghi nhận vụ việc.

Tang vật thu giữ, gồm: 01 (một) bộ bài tú lơ khơ (đã sử dụng), 01 (một) thảm vải màu xám kích thước 1,35m x 02m; Thu giữ bên cạnh chiếu bạc số tiền 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng), giữa chiếu bạc số tiền là 620.000₫ (Sáu trăm hai mươi ngàn đồng); Thu giữ tại chiếu bạc trước mặt các đối tượng số tiền 2.120.000₫ (Hai triệu một trăm hai mươi ngàn đồng) gồm: Trước mặt Nguyễn Văn C2 số tiền 500.000đ (Năm trăm ngàn đồng), trước mặt Phùng Thị M số tiền 1.380.000đ (Một triệu ba trăm tám mươi ngàn đồng), trước mặt Nguyễn Hữu H2 số tiền 240.000₫ (Hai trăm bốn mươi ngàn đồng); Thu giữ trên người các đối tượng số tiền 5.040.000₫ gồm: của Phùng Thị M số tiền 500.000đ (Năm trăm ngàn đồng); của Nguyễn Thị H4 số tiền 1.250.000đ (Một triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng); của Hoàng Văn H7 số tiền 250.000đ (Hai trăm năm mươi ngàn đồng); của Huỳnh Văn T7 số tiền 30.000₫ (Ba mươi ngàn đồng); của Nguyễn Văn H5 số tiền 1.350.000đ (Một triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng); của Đinh Văn B số tiền 820.000₫ (Tám trăm hai mươi ngàn đồng); của Phùng Thị L số tiền 840.000đ (T8 trăm bốn mươi ngàn đồng).

Cách thức đánh bạc với hình thức đánh cào tố (Liêng) của các bị can như sau:

Các đối tượng sử dụng bộ bài tây (tú lơ khơ) 52 lá, trước khi bắt đầu chơi, tất cả người chơi đều phải đặt một số tiền bằng nhau là 10.000 đồng (mười ngàn đồng), mỗi người sẽ nhận được 3 lá bài, người chơi sẽ có 3 sự lựa chọn như sau: Úp bài (nghĩa là người chơi lựa chọn úp bài và mất số tiền cược ban đầu, kết thúc ván bài); Theo (nghĩa là đặt số tiền cược bằng với người cửa trên đặt) hoặc T9 (nghĩa là cược thêm tiền cao hơn so với số tiền của người cửa trên đặt). Cách thức tính bài như sau: Bài lớn nhất là S1 (là bộ bài có ba lá giống nhau), sau đó tới liêng (là bộ bài có ba lá liên tiếp nhau), tiếp theo là Ba tây (bộ bài có cả ba lá bài đều là Tây J, Q, K). Nếu bài không có S1, L1, Ba tây thì tính tổng số điểm của ba lá, ai cao điểm hơn sẽ thắng. Số tiền tố thấp nhất là 10.000đ (mười ngàn đồng), cao nhất là 100.000đ (một trăm ngàn đồng).

Quá trình điều tra, xác định: Nguyễn Hữu H2 mang theo số tiền 640.000₫, sử dụng hết vào mục đích đánh bạc; Nguyễn Thị H4 mang theo số tiền 1.540.000đ, sử dụng hết vào mục đích đánh bạc; Hoàng Văn H7 mang theo số tiền 640.000đ, sử dụng hết vào mục đích đánh bạc; Nguyễn Văn H5 mang theo số 1.040.000đ, sử dụng hết vào mục đích đánh bạc; Phùng Thị L mang theo số tiền 620.000đ, sử dụng hết vào mục đích đánh bạc; Huỳnh Nguyễn T2 mang theo số tiền 580.000₫ sử dụng hết vào mục đích đánh bạc; Nguyễn Văn C2 mang theo số tiền 840.000₫ sử dụng hết vào mục đích đánh bạc; Đinh Văn B mang theo số tiền 740.000đ sử dụng hết vào mục đích đánh bạc; Phùng Thị M mang theo số tiền 1.340.000₫ sử dụng hết vào mục đích đánh bạc. Trong thời gian đánh bạc không có ai đứng ra tổ chức, canh gác, thu tiền xâu, cho vay hay cầm cố tài sản. Tổng số tiền các đối tượng đã sử dụng vào mục đích đánh bạc tổng cộng là 7.980.000 đồng (Bảy triệu chín trăm tám mươi ngàn đồng).

Tại bản cáo trạng số 57/CT-VKS ngày 06 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà đã truy tố các bị cáo Phùng Thị M, Đinh Văn B, Nguyễn Văn C2, Hoàng Văn H7, Huỳnh Nguyễn T2, Nguyễn Hữu H2, Phùng Thị L, Nguyễn Văn H5, Nguyễn Thị H4 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, không ai thắc mắc, khiếu nại gì về nội dung bản cáo trạng.

Tại phần tranh luận, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà giữ nguyên bản cáo trạng đã truy tố các bị cáo Phùng Thị M, Đinh Văn B, Nguyễn Văn C2, Hoàng Văn H7, Huỳnh Nguyễn T2, Nguyễn Hữu H2, Phùng Thị L, Nguyễn Văn H5, Nguyễn Thị H4 về tội “Đánh bạc”. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Phùng Thị M từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Huỳnh Nguyễn T2 từ 06 tháng đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt các bị cáo Nguyễn Thị H4, Nguyễn Văn H5, Đinh Văn B, Nguyễn Hữu H2, Nguyễn Văn C2, Phùng Thị L, Hoàng Văn H7 mỗi bị cáo từ 20.000.000đ đến 30.000.000đ để nộp vào ngân sách nhà nước.

- Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321, phạt bổ sung bị cáo Phùng Thị M từ 10.000.000đ đến 20.000.000₫ để nộp vào ngân sách nhà nước. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Huỳnh Nguyễn T2, Nguyễn Thị H4, Nguyễn Văn H5, Đinh Văn B, Nguyễn Hữu H2, Nguyễn Văn C2, Phùng Thị L, Hoàng Văn H7.

Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Phùng Thị Mười .

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 thảm vải màu xám, 01 bộ bài tú lơ khơ; Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 7.980.000 đồng.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, tang vật thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ xác định, vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 27/9/2023, các bị cáo Phùng Thị M, Đinh Văn B, Nguyễn Văn C2, Hoàng Văn H7, Huỳnh Nguyễn T2, Nguyễn Hữu H2, Phùng Thị L, Nguyễn Văn H5, Nguyễn Thị H4 đã cùng nhau thực hiện hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền với hình thức đánh cào tố (đánh liêng) tại phòng của bị cáo Phùng Thị Mười . Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc trái phép là 7.980.000đ. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Phùng Thị M, Đinh Văn B, Nguyễn Văn C2, Hoàng Văn H7, Huỳnh Nguyễn T2, Nguyễn Hữu H2, Phùng Thị L, Nguyễn Văn H5, Nguyễn Thị H4 đã phạm vào tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Cáo trạng Viện kiểm sát huyện L đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự địa phương, hành vi của các bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, với động cơ sát phạt lẫn nhau thắng thua bằng tiền. Đánh bạc là một tệ nạn xã hội, không những ảnh hưởng đến kinh tế của từng gia đình mà còn là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác.

[4] Xét vai trò của các bị cáo: Các bị cáo cùng nhau tham gia đánh bạc, không có ai đứng ra tổ chức, rủ rê, thu tiền xâu, không ai canh gác, cảnh giới nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Bị cáo Phùng Thị M là người trực tiếp đi mua bài và để các bị cáo đánh bạc tại phòng của mình nên bị cáo có vai trò cao nhất trong vụ án. Xét đến số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc thì bị cáo Nguyễn Thị H4 có vai trò cao hơn các bị cáo khác và sau vai trò của bị cáo M, tiếp đến là bị cáo Nguyễn Văn H5, Nguyễn Văn C2, Đinh Văn B, Hoàng Văn H7, Nguyễn Hữu H2, Phùng Thị L, Huỳnh Nguyễn T2.

[5] Bị cáo Huỳnh Nguyễn T2 bị Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xử phạt 40.000.000đ về tội “Đánh bạc” tại bản án số 86/2019/HS-ST ngày 26/11/2019, đến thời điểm phạm tội bị cáo chưa thi hành xong. Do vậy, bị cáo phạm tội khi chưa được xóa án tích nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

[6] Các bị cáo đều thể hiện thái độ khai báo thành khẩn, có thái độ ăn năn hối cải về hành vi đã thực hiện nên cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Các bị cáo Phùng Thị M, Đinh Văn B, Nguyễn Văn C2, Hoàng Văn H7, Nguyễn Hữu H2, Phùng Thị L, Nguyễn Văn H5, Nguyễn Thị H4 phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cho các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7] Bị cáo Huỳnh Nguyễn T2 từng bị Tòa án xử phạt về hành vi đánh bạc, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà khi chưa được xóa án tích bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc điều này thể hiện bị cáo coi thường kỷ cương pháp luật nên cần phải áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện viện kiểm sát để bị cáo nhìn nhận lỗi lầm, tu dưỡng rèn luyện bản thân, sống biết tuân thủ pháp luật. Đồng thời để đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa chung.

Bị cáo Phùng Thị M là người có vai trò cao nhất, hơn nữa bị cáo lại từng bị xử lý hành chính về hành vi đánh bạc. Bị cáo Nguyễn Thị H4 tham gia đánh bạc với số tiền nhiều nhất nên đánh lẽ ra cũng cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo M và bị cáo H4 ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định. Tuy nhiên, xét các bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo H4 có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Các bị cáo đều là phụ nữ, bị cáo M không hưởng lợi gì từ việc các bị cáo khác đánh bạc, các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng nên để thể hiện tính nhân đạo của phát luật xã hội chủ nghĩa không cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của gia đình và chính quyền địa phương cũng đủ để các bị cáo nhìn nhận lỗi lầm mà vẫn đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa chung.

Các bị cáo Đinh Văn B, Nguyễn Văn C2, Hoàng Văn H7, Nguyễn Hữu H2, Phùng Thị L, Nguyễn Văn H5 đều có nhân thân tốt, nhất thời phạm tội, số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc không lớn nên áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo để các bị cáo thấy được giá trị đồng tiền mà từ bỏ hành vi phạm tội và cũng đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa chung.

[8] Đối với hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 thì ngoài hình phạt chính người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Xét bị cáo Phùng Thị M là người có vai trò cao nhất, bị cáo H4 tham gia tích cực với số tiền cao hơn các bị cáo khác, mặc dù cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội nhưng cũng cần phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo để các bị cáo thấy được giá trị đồng tiền mà từ bỏ hành vi phạm tội là phù hợp. Bị cáo Huỳnh Nguyễn T2 bị áp dụng hình phạt tù có thời hạn và gia đình bị cáo có khó khăn, các bị cáo Đinh Văn B, Nguyễn Văn C2, Hoàng Văn H7, Nguyễn Hữu H2, Phùng Thị L, Nguyễn Văn H5 đã bị áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Huỳnh Nguyễn T2, Đinh Văn B, Nguyễn Văn C2, Hoàng Văn H7, Nguyễn Hữu H2, Phùng Thị L, Nguyễn Văn H5.

[9] Bị cáo Huỳnh Nguyễn T2 có nơi cư trú rõ ràng. Quá trình điều tra và xét xử tại Tòa án, bị cáo đều tuân thủ đúng theo sự triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng, nên không cần thiết phải bắt ngay bị cáo tại phiên tòa mà khi nào bản án có hiệu lực pháp luật mới bắt bị cáo đi chấp hành án là phù hợp.

[10] Đối với các bị cáo Phùng Thị M, Nguyễn Thị H8 bị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đáng ra phải khấu trừ thu nhập của các bị cáo tuy nhiên các bị cáo là dân lao động, không có thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo.

[11] Xử lý vật chứng:

Vật chứng cơ quan điều tra thu giữ bàn giao sang Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà là 01 thảm vải màu xám; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá; số tiền 7.980.000đ. Xét thấy:

Đối với 01 thảm vải màu xám; 01 bộ bài tây 52 lá là công cụ phạm tội không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với số tiền 7.980.000đ, quá trình điều tra và tại phiên tòa chứng minh được là số tiền các bị cáo dùng đánh bạc nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước là phù hợp.

[12] Về án phí: buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Phùng Thị M, Đinh Văn B, Nguyễn Văn C2, Hoàng Văn H7, Huỳnh Nguyễn T2, Nguyễn Hữu H2, Phùng Thị L, Nguyễn Văn H5, Nguyễn Thị H4 cùng phạm tội “Đánh bạc”.
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017,
      • + Xử phạt bị cáo Phùng Thị M 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
      • + Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H4 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017,
      • + Xử phạt bị cáo Huỳnh Nguyễn T2 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
      • + Phạt tiền bị cáo Nguyễn Văn H5 35.000.000₫ (Ba mươi lăm triệu đồng) để nộp vào ngân sách nhà nước.
      • + Phạt tiền bị cáo Nguyễn Văn C2 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
      • + Phạt tiền bị cáo Đinh Văn B 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
      • + Phạt tiền bị cáo Nguyễn Hữu H2 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
      • + Phạt tiền bị cáo Phùng Thị Liên 2 (Hai mươi lăm triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
      • + Phạt tiền bị cáo Hoàng Văn H7 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
    • Giao bị cáo Phùng Thị M cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục. Giao bị cáo Nguyễn Thị H4 cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục. Gia đình các bị cáo Phùng Thị M, Nguyễn Thị H4 có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Các bị cáo Phùng Thị M, Nguyễn Thị H4 phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ.
    • Miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo Phùng Thị M, Nguyễn Thị H4.
  2. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017,
    • - Phạt bổ sung đối với bị cáo Phùng Thị M 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
    • - Phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Thị H4 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

    Tuyên:

    • - Tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 7.980.000đ (Bảy triệu chín trăm tám mươi ngàn đồng) theo giấy nộp tiền ngày 08.3.2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà.
    • - Tịch thu và tiêu hủy: 01 (Một) thảm vải màu xám; 01 (Một) bộ bài tú lơ khơ 52 lá.
    • (Tất cả có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà).
  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 19/4/2024) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - VKS tỉnh Lâm Đồng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKS, CA huyện Lâm Hà;
  • - Thi hành án huyện Lâm Hà;
  • - Các Bị cáo;
  • - Lưu HS - BP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Trung Kiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/HS-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự sơ thẩm về tội "đánh bạc"

  • Số bản án: 57/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội "Đánh bạc"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger