Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIÊN LÃNG

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 57/2024/HNGĐ-ST

Ngày 20-9-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Xuyến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Tiến;

Ông Hoàng Văn Đoan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 87/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 39/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Huyền T, sinh năm 2000, nơi ĐKHKTT: Thôn P, xã C, huyện T, Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Thôn H, xã T, huyện T, Hải Phòng; vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Phạm Văn T1, sinh năm 1999, nơi cư trú: Thôn P, xã C, huyện T, Hải Phòng; vắng mặt lần thứ hai, đã được Toà án triệu tập hợp lệ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Phạm Thị Huyền T trình bày: Chị và anh Phạm Văn T1 tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C ngày 11/10/2021. Quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do anh T1 ham chơi, không chăm lo cho gia đình, vợ con; nhiều lần đánh đuổi và xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của chị T và gia đình chị. Do mâu thuẫn căng thẳng nên anh chị đã sống ly thân mỗi người một nơi từ tháng 6/2023 đến nay. Xác định vợ chồng không còn tình cảm, chị T yêu cầu Toà án giải quyết cho chị ly hôn anh T1. Anh chị có 01 con chung là Phạm Cát Anh T2, sinh ngày 29/3/2022, hiện đang sống cùng chị T. Khi ly hôn, chị nhận nuôi con, không yêu cầu Toà án giải quyết về việc cấp dưỡng cho con và tài sản chung. Chị hiện làm công nhân, có thu nhập ổn định, đảm bảo việc nuôi con.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật cho bị đơn nhưng anh Phạm Văn T1 không tham gia tố tụng, không giao nộp văn bản trình bày quan điểm của mình cho Toà án.

Tài liệu xác minh tại gia đình và địa phương thể hiện: Anh T1 và chị T tự nguyện kết hôn với nhau từ năm 2021. Trong thời gian chung sống, anh chị xảy ra mâu thuẫn, đã được chính quyền thôn hoà giải nhưng không thành, chị T đưa con về sống với bố mẹ đẻ, vợ chồng sống ly thân từ giữa năm 2023 đến nay. Anh chị có 01 con chung là Phạm Cát Anh T2, sinh ngày 29/3/2022, hiện đang sống cùng chị T. Cả hai anh chị đều làm công nhân, có thu nhập ổn định; gia đình chị T cam kết đảm bảo về chỗ ở và hỗ trợ chị T chăm sóc con.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, không giao nộp văn bản trình bày quan điểm, không có mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, phiên toà theo thông báo của Tòa án, vi phạm khoản 15, khoản 16 Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã thụ lý đúng thẩm quyền và xác định đúng quan hệ pháp luật của vụ án là về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

Về hôn nhân, mâu thuẫn tình cảm giữa chị T và anh T1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vi phạm Điều 19, Điều 21 của Luật Hôn nhân và gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, xử cho chị T được ly hôn anh T1; giao con chung Phạm Cát Anh T2, sinh ngày 29/3/2022 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Không xem xét, giải quyết về cấp dưỡng cho con và tài sản chung do đương sự không yêu cầu. Chị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm; chị T, anh T1 có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Chị Phạm Thị Huyền T khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Phạm Văn T1, cư trú tại thôn P, xã C, huyện T nên căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là ly hôn, tranh chấp về nuôi con và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.

[2] Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt lần thứ 2, đã được Toà án triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị T và anh T1.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Huyền T và anh Phạm Văn T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C ngày 11/10/2021 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình. Lời khai của nguyên đơn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập được có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Chị T và anh T1 xảy ra mâu thuẫn nghiêm trọng, đã hoà giải nhưng không thành; vợ chồng đã sống ly thân mỗi người một nơi, không quan tâm nhau. Do đó, có đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa chị T và anh T1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; yêu cầu ly hôn của chị T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên cần chấp nhận, xử cho chị T được ly hôn anh T1.

[4] Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Phạm Cát Anh T2, sinh ngày 29/3/2022. Xét thấy, con chung của anh chị dưới 36 tháng tuổi, hiện đang sống cùng chị T và chị có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của con cần căn cứ khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình giao con Phạm Cát Anh T2, sinh ngày 29/3/2022 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Thời hạn nuôi con kể từ ngày 20/9/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, chị T và anh T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết; xét thấy quyền lợi của con vẫn được đảm bảo nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung: Chị T và anh T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Chị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[7] Về quyền kháng cáo: Chị T và anh T1 có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị Huyền T, xử cho chị T được ly hôn anh Phạm Văn T1.
  2. Về con chung: Giao con Phạm Cát Anh T2, sinh ngày 29/3/2022 cho chị Phạm Thị Huyền T trực tiếp nuôi dưỡng. Thời hạn nuôi con tính từ ngày 20/9/2024 đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Không xem xét về việc cấp dưỡng cho con do các đương sự không yêu cầu.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung: Chị T và anh T1 không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Phạm Thị Huyền T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Chị T đã nộp đủ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009029 ngày 27/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng.

    Chị T và anh T1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Tiên Lãng;
  • - Chi cục THADS huyện Tiên Lãng;
  • - UBND xã Cấp Tiến (ĐKKH năm 2021);
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Xuyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/HNGĐ-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 57/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BALH T-T 57.20.9.2024
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger