TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 57/2024/HS-ST
Ngày 18-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Ái
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đặng Thị Ngọc
Ông Vang Thanh Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Vy Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Đinh Ngọc Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thế H, tên gọi khác: Không có; sinh ngày 28 tháng 8 năm 1990 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nơi Đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm B, xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thế T và con bà Nguyễn Thị C; vợ, con: Chưa có; Tiền án: Ngày 28/5/2021, Nguyễn Thế H bị Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, xử phạt 27 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, tại bản án hình sự sơ thẩm số 49/2021/HSST, đến ngày 08/02/2023 chấp hành xong hình phạt tù, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12 tháng 5 năm 2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Lô Văn N, sinh năm 1982. Trú tại: Bản T, xã X, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có đơn xét xử vắng mặt
Người chứng kiến: Anh Trần Xuân H1. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ ngày 12/5/2024, Nguyễn Thế H điều khiển xe máy nhãn hiệu HONDA, số loại Wave RSX, mang biển kiểm soát 37D1-033.60, đi từ bản T, xã X, huyện T đến khu vực bản Đ, xã L, huyện T để tìm mua ma tuý về sử dụng. Đến nơi, H tìm gặp và mua của một người phụ nữ không quen biết được 01 gói ma tuý H2 phiến với giá 350.000 đồng. Sau đó, Nguyễn Thế H lấy 01 viên H2 phiến ra để sử dụng, số còn lại Hà gói lại như cũ và cầm trong lòng bàn tay phải, rồi điều khiển xe máy đi về. Đến 11 giờ 10 phút cùng ngày, khi Nguyễn Thế H về đến bản X, xã L, huyện T, thì bị tổ công tác Công an huyện T kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ của H 01 gói Ni lông màu trắng, bên trong chứa các viên nén màu hồng. Nguyễn Thế H khai nhận số viên nén màu hồng là Hồng phiến của H mua về để sử dụng. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của Nguyễn Thế H 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, số loại Wave RSX, mang biển kiểm soát 37D1-033.60.
Kết luận giám định số 527 ngày 18/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Nguyễn Thế H gửi đến giám định là ma tuý Methamphetamine, có khối lượng 0,6 (Không phẩy sáu) gam.
Bản Cáo trạng số 54/CT-VKS-TD ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương đã truy tố Nguyễn Thế H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố của Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo: Nguyễn Thế H mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Lô Văn N có đơn xin nhận lại chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, số loại Wave RSX, mang biển kiểm soát 37D1-033.60.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến gì tranh luận bổ sung. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để nhanh chóng trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
[2] Hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Thế H đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người chứng kiến đã được công bố công khai tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận: Vào 11 giờ 10 phút ngày 12/5/2024, tại bản X, xã L, huyện T, tỉnh Nghệ An. Nguyễn Thế H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,6 gam Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi mà bị cáo đã thực hiện và khối lượng vật chứng thu được đã cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương đối với bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ đúng pháp luật.
[3] Tính chất, mức độ hậu quả của vụ án: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự đã cố ý thực hiện tội phạm nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội và tội phạm. Vì vậy việc cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung là cần thiết.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình gây ra nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và lượng hình ở mức thấp nhất như lời đề nghị của Kiểm sát viên là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[6] Hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh tài sản của bị cáo chỉ đủ duy trì cuộc sống thiết yếu hàng ngày và không có tài sản nào được tạo lập từ việc phạm tội nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Đối với người phụ nữ đã bán ma tuý cho bị can Nguyễn Thế H ở khu vực bản Đửa, xã L, huyện T. Do H không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ.
Đối với anh Lô Văn N là chủ sở hữu 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, số loại Wave RSX, mang biển kiểm soát 37D1-033.60, anh N không biết bị cáo H sử dụng chiếc xe máy để đi mua ma túy về sử dụng, nên nên hành vi của anh N không cấu thành tội phạm.
[7] Xử lý vật chứng: 0,6g Methamphetamine (đã lấy 0,2g để đi giám định) là vật cấm lưu hành không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy;
01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, số loại Wave RSX, mang biển kiểm soát 37D1-033.60 là thuộc sở hữu của anh Lô Văn N (Sinh năm 1982, trú tại bản T, xã X, huyện T), anh N không biết bị cáo sử dụng chiếc xe máy để đi mua ma túy về sử dụng nên cần trả lại cho anh N là đúng với quy định của pháp luật.
[8] Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thế H 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội. “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 12/5/2024.
[2] Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1,khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Trả lại cho anh Lô Văn N, sinh năm 1982, trú tại bản T, xã X, huyện T 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, số loại Wave RSX, mang biển kiểm soát 37D1-033.60.
- + Tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án;
(Đặc điểm và tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 06.8.2024 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An);
[3] Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH bị cáo Nguyễn Thế H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 18/9/2024. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Ái |
Bản án số 57/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 57/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tàng trữ trái phép chất ma túy
