|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 57/2024/HS-ST
Ngày 18-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quân Vương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hồ Đắc Minh.
- Bà Nguyễn Thị Kim Phi.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thọ, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng tham gia phiên tòa: Võ Thế Duẩn - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 13 và 18 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 57/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Minh N, sinh ngày 20 tháng 3 năm 1980 tại tỉnh Bến Tre; thường trú: ấp B, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nam; con ông Trần Văn M (đã chết) và bà Phan Thị B; bị cáo có vợ và có 02 con; tiền sự: không, tiền án: Bản án số 180/2020/HS-PT ngày 25/11/2020 Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/8/2020); bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/3/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1980; nơi cư trú: Ấp Đ, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương, có đơn xin vắng mặt.
Nguyên đơn dân sự: Bà Nguyễn Thị Nam B1, sinh năm 1989, nơi cư trú: Số A, Đường số B, Phường E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: khu phố B, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng thời gian năm 1998, Trần Minh N cùng mẹ ruột là Phan Thị B đến sinh sống cùng ông Võ Văn T (ông T và bà B sống chung với nhau như vợ chồng) tại thửa đất số 196, tờ bản đồ 55 tọa lạc tại ấp B, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương do bà Nguyễn Thị Ngọc B2 làm chủ sở hữu, ông T không nói cho bà B2 biết (ông T được bà B2 thuê canh tác trông coi mãnh đất trên mỗi tháng tiền công 500.000 đồng). Ngày 15/7/2022, bà B2 chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Nam B1 thửa đất số 196, tờ bản đồ số 55 và đã sang tên bà B1 theo quy định.
Quá trình sinh sống và canh tác trên thửa đất số 196. Năm 2019 sau khi ông Võ Văn T chết, Trần Minh N và mẹ là Phan Thị B đã tự ý cho ông Nguyễn Long P và ông Nguyễn Văn H thuê đất để trồng cây và canh tác không xin ý kiến của chủ sở hữu quyền sử dụng đất là bà B2. Sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà B2, bà B1 yêu cầu N, bà B, ông P, ông L giao đất cho bà thì xảy ra tranh chấp nên bà B1 khởi kiện ra tòa án. Ngày 14/6/2023 và ngày 28/8/2023 Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng; Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử và tuyên án công nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vào sổ CS 09600 ngày 08/8/2022 đối với thửa đất số 196 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp của bà Nguyễn Thị Nam B1 đồng thời ghi nhận sự thỏa thuận khác của các đương sự (Bản án có hiệu lực thi hành và được Chi cục thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng ra Quyết định thi hành án số 139; 140; 141/QĐ-CCTHADS ngày 06/10//2023 tống đạt cho Trần Minh N và các đương sự liên quan thực hiện). Tuy nhiên, đến ngày 17/10/2023, do cần tiền chữa trị bệnh cho mẹ ruột nên Trần Minh N tự ý thỏa thuận bán cho ông Nguyễn Văn V vườn cây tràm bông vàng của bà B1 gồm 1768 cây khoảng 04 năm tuổi trồng trên thửa đất số 196, tờ bản đồ số 55 với giá 29.500.000 đồng. Khi bán cây tràm, N nói vườn cây tràm là của N nên ông V đồng ý mua và đã thanh toán đủ số tiền 29.500.000 đồng cho N, nhưng không làm hợp đồng mua bán theo quy định. Sau khi mua cây, ông V đã tiến hành cưa tổng cộng 823/1768 cây bán lại cho Công ty H1 địa chỉ ấp K, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương với số tiền 29.300.000 đồng. Ngày 19/10/2023, bà Nguyễn Thị Nam B1 đến thăm vườn thì phát hiện số cây tràm trên thửa đất đang bị cưa hạ nên đã trình báo Công an xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương xử lý.
Đến ngày 19/02/2024, ông V biết vườn cây tràm là do bà Nguyễn Thị Nam B1 sở hữu nên đã làm đơn tố cáo hành vi lừa đảo của Trần Minh N gửi cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D xử lý theo thẩm quyền, đồng thời giao nộp số tiền 29.300.000 đồng có được từ việc bán cây tràm mua cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D xử lý theo quy định.
Kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐG ngày 14/5/2020 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện D kết luận: Tổng giá trị thiệt hại trong vụ án là: 827 cây tràm bông vàng, khoảng 04 năm tuổi, có trọng lượng 31.880 kg (vật chứng không thu hồi được), có trị giá 28.692.000 đồng.
Cáo trạng số 55/CT-VKS-DA ngày 24 tháng 7 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trần Minh N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 02 tháng tù, đề nghị buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù tại Bản án số 180/2020/HS-PT ngày 25/11/2020 Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/8/2020) và tổng hợp hình phạt 02 bản án theo quy định.
Về xử lý vật chứng:
Đối với thiệt hại vườn cây tràm trị giá 28.692.000 đồng. Quá trình điều tra bà Nguyễn Thị Nam B1 không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Đối với 29.300.000 đồng do ông V giao nộp, bà Nguyễn Thị Nam B1 không yêu cầu nhận lại nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện D đã chuyển đến chi cục thị hành án dân sự huyện D để xử lý theo quy định. Xét thấy bà Nguyễn Thị Nam B1 không yêu cầu bồi thường thiệt hại, vì vậy đề nghị trả lại 29.300.000 đồng cho ông Nguyễn Văn V. Buộc Trần Minh N tiếp tục trả lại 200.000 đồng còn lại cho ông V theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa, lời khai của người tham gia tố tụng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định: Do không có tiền tiêu xài và chữa bệnh cho mẹ nên vào ngày 17/10/2023, Trần Minh N đưa ra thông tin gian dối N là chủ sở hữu vườn cây tràm bông vàng có 1768 cây, khoảng 04 năm tuổi trồng trên thửa đất số 196, tờ bản đồ số 55 thuộc ấp B, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương để thỏa thuận bán cho ông Nguyễn Văn V, do tin tưởng lời N nói nên ông V đồng ý mua vườn cây tràm với giá 29.500.000 đồng. Sau khi mua cây, ông V đã tiến hành cưa tổng cộng 823/1768 cây bán lại cho Công ty H1 với số tiền 29.329.000 đồng. Ngày 19/10/2023, bà Nguyễn Thị Nam B1 là chủ sở hữu vườn cây tràm phát hiện ông V đang cưa cây tràm nên đã trình báo Công an xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương xử lý. Hành vi của bị cáo Trần Minh N đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhưng đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, mục đích vì tư lợi. Do đó, cần xử phạt bị cáo hình phạt tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bản án số 180/2020/HS-PT ngày 25/11/2020 Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 25/11/2020), bị cáo chưa được xoá án tích, nay lại phạm tội mới nên thuộc trường hợp “Tái phạm”.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo được xem xét khi quyết định hình phạt: Quá trình tố tụng, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[6] Về nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu.
[7] Trách nhiệm dân sự:
- Đối với thiệt hại vườn cây tràm trị giá 28.692.000 đồng. Quá trình điều tra bà Nguyễn Thị Nam B1 không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Đối với 29.300.000 đồng do ông V giao nộp, xét thấy bà Nguyễn Thị Nam B1 không yêu cầu bồi thường thiệt hại, vì vậy cần trả lại 29.300.000 đồng cho ông Nguyễn Văn V. Buộc Trần Minh N tiếp tục trả lại 200.000 đồng còn lại cho ông V theo quy định.
[8] Về hình phạt:
+ Hình phạt chính: Xét bị cáo mặc dù phạm tội ít nghiêm trọng, nhưng bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
+ Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Hội đồng xét xử, xét thấy hình phạt chính đã đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo nên không phạt bổ sung.
[9] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt là phù hợp nên chấp nhận.
[10] Bản án số 180/2020/HS-PT ngày 25/11/2020 Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/8/2020), trong thời gian thử thách bị cáo phạm tội mới nên cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp hình phạt của 02 bản án theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.
[11] Án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Trần Minh N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Về áp dụng điều luật và hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 56 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Minh N 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại Bản án số 180/2020/HS-PT ngày 25/11/2020 Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Tổng hợp hình phạt 02 bản án, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 04 (bốn) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/3/2024, được khấu trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 10/02/2020 đến ngày 20/02/2020.
- Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46 Bộ luật Hình sự; các Điều 585; 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo có trách nhiệm trả lại cho ông Nguyễn Văn V 200.000 đồng.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại cho ông Nguyễn Văn V 29.300.000 đồng.
(Theo biên lai thu tiền số 0001975, ngày 13/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng).
- Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Minh N phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo và nguyên đơn dân sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Quân Vương |
Bản án số 57/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 57/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Minh Nhật -174
