|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 30/2023/HNGĐ-ST Ngày: 29 - 11- 2023. Về việc: Ly hôn. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN - TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bá Thiệp; Bà Nguyễn Thị Bích Thu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 133/2023/TLST-HNGĐ ngày 17/10/2023 về việc: Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2023/QĐXX-HNGĐ ngày 09/11/2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thu H, sinh năm 1977. Có mặt.
Bị đơn: Anh Vũ Văn T, sinh năm 1977. Có mặt.
Cùng HKTT: Đội 12, thôn A, xã L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Trú tại: Đ, thôn Đ, xã L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Cháu Vũ Trần Bảo N, sinh ngày 10/02/2013. Vắng mặt.
Đại diện theo pháp luật cho cháu N là anh T và chị H.
Địa chỉ: Đ, thôn Đ, xã L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên.
Người làm chứng:
Ông Trần Văn S, sinh năm 1948. Trú tại: Đ, thôn A, xã L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
Ông Vũ Lăng P, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1955. Cùng trú tại: Đ, thôn A, xã L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Thu H trình bầy:
Chị H và anh Vũ Văn T đăng ký kết hôn ngày 23/12/2002 tại UBND xã L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau kết hôn, vợ chồng chị ở cùng bố mẹ anh T. Trong quá trình chung sống vợ chồng đã có mâu thuẫn về kinh tế. Khi cãi nhau anh T đã đánh chị. Năm 2005 vợ chồng chị ra ở riêng, anh T rất ham chơi cờ bạc, đã nhiều lần anh lấy tiền của chị chơi cờ bạc, có lần chị còn phải trả nợ cho anh, nhưng vì nghĩ đến con chị đã cố chịu đựng. Năm 2009 anh T bị tai nạn phải nằm viện điều trị tốn rất nhiều tiền, chị phải vay mượn của người thân, họ hàng làm cho kinh tế vợ chồng càng thêm khó khăn. Sau lần tai nạn đó, anh T vẫn không từ bỏ được cờ bạc, tuy anh đi làm có đóng góp nuôi con nhưng rất ít, còn đâu anh lại chơi cờ bạc hết. Năm 2014 anh T lại bị tai nạn lần 2 phải làm ở nhà điều trị vết thương nhưng anh lại lao vào chơi cờ bạc và đã bị Công an thành phố H bắt giữ. Chị nộp tiền phạt 5 triệu đồng để anh được thả ra. Khi được thả ra anh T còn chửi chị mất tiền ngu. Vợ chồng thường xuyên cãi nhau trước mặt các con và bố mẹ hai bên vì anh T chơi cờ bạc, kinh tế vợ chồng khó khăn. Ngày 20/8/2023 anh T dùng ma túy quá liều bị sốc thuốc phải nhập viện. Sau khi ra viện anh đã thừa nhận với chị việc dùng ma túy. Từ đó vợ chồng sống ly thân, tuy sống trong một nhà nhưng không ăn cơm chung, không trò truyện với nhau, việc ai người ấy làm. Chị nhận thấy sống cùng anh T không có hạnh phúc, đến nay đã hết tình cảm. Chị xin ly hôn anh.
Theo bị đơn anh Vũ Văn T trình bầy:
Việc anh và chị H tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau đúng như chị trình bày. Sau kết hôn vợ chồng sống với nhau không có mâu thuẫn gì. Chị H là giáo viên trường mầm non L còn anh làm văn thư trong UBND xã L khoảng 01 năm, sau làm công nhân trên Phố Nối, cuối tuần tranh thủ về với vợ con, lương được 2 triệu đồng, đưa cho chị H 1,5 triệu, còn đâu dữ lại lo ăn uống sinh hoạt trên đó. Năm 2009 anh bị tai nạn trên Phố Nối, khiến cho kinh tế càng thêm khó khăn. Sau khi khỏe anh về Hưng Yên làm công nhân ở Công ty TNHH P1 được 02 năm, do sức khỏe yếu chuyển sang làm bảo vệ, lương được 4 triệu đồng. Hàng tháng anh đưa cho chị H thấp nhấp là 3 triệu đồng, còn lại chi tiêu cho bản thân. Trong cuộc sống anh và chị H có cãi nhau vì chuyện tiền nong trong nhà do kinh tế khó khăn. Lúc nóng giận anh có tát chị H 01 lần. Năm 2014 anh lại bị tai nạn phải nằm nhà điều trị vết thương, anh có 01 lần tham gia chơi cờ bạc và bị Công an thành phố H bắt giữ. Ngày 20/8/2023 anh có dùng Heroine tại nhà quá liều nên bị sốc thuốc phải nhận viện. Do bạn bè rủ chơi ma túy nên anh mới thử chơi được 01 đến 02 lần chứ không thường xuyên chơi ma túy. Sau khi ra viện về nhà anh đã thẳng thắn thừa nhận là có dùng ma túy với chị H. Từ đó chị H chủ động ly thân với anh. Đến nay, chị H xin ly hôn, anh không đồng ý ly hôn.
2
Về con chung: Chị H và anh T có 02 con chung là Vũ Quang H1, sinh ngày 30/9/2003 và Vũ Trần Bảo N, sinh ngày 10/02/2013. Cháu H1 đã trên 18 tuổi, tự lập được, anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cháu N có nguyện vọng ở với chị H. Anh T2 và chị H đều có nguyện vọng nhận nuôi cháu N khi ly hôn và tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản, nợ chung: Anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng hai bên không thỏa thuận được toàn bộ nội dung về việc giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa: Chị Trần Thị Thu H giữ nguyên quan điểm theo đơn khởi kiện xin ly hôn anh Vũ Văn T; về con chung cháu H1 không yêu cầu giải quyết. Cháu N chị nhận nuôi và tự nguyện không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Vũ Văn T không đồng ý ly hôn. Nếu chị H đồng ý để cháu N cho anh nuôi thì anh đồng ý ly hôn. Cháu H1 đã trên 18 tuổi, anh không yêu cầu giải quyết. Tài sản chung tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
- Quan điểm của đại diện VKSND thành phố Hưng Yên:
+ Về tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên đã chấp hành nghiêm chỉnh trình tự thủ tục tố tụng kể từ khi thụ lý, thu thập chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đến quá trình xét xử công khai tại phiên tòa.
+ Về nội dung: Đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 57, khoản 2 Điều 82, khoản 1 Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị HĐXX tuyên xử chị H được ly hôn anh T. Con chung cháu H1 đã đủ 18 tuổi, nên không xem xét giải quyết. Cháu N giao cho chị H nuôi dưỡng, chấp nhận sự tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng của chị H. Tài sản chung: đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết; chị H phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Trần Thị Thu H yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Vũ Văn T có hộ khẩu thường trú: Đ, thôn A, xã L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Trú tại: Đ, thôn Đ, xã L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên. Quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn”.
[2] Về nội dung:
3
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Thu H và anh Vũ Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện T (nay là thành phố H), tỉnh Hưng Yên ngày 23/12/2002, như vậy hôn nhân giữa chị H và anh T là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận.
[2.2] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị H: Chị H, anh T cũng như đại diện hai bên gia đình đều khẳng định cuộc sống vợ chồng anh chị có mâu thuẫn. Nguyên nhân là do khó khăn về kinh tế nên vợ chồng cãi nhau, anh T có đánh chị H (BL32). Ngoài mâu thuẫn về kinh tế, trong cuộc sống anh T còn chơi cờ bạc và bị Công an thành phố H bắt giữ, dùng Heroine quá liều nên sốc thuốc phải nhập viện. Sau khi ra viện vợ chồng sống ly thân, không quan tâm nhau. Xét thấy mẫu thuẫn vợ chồng anh T là có, lỗi là do anh T. Tại buổi hòa giải ngày 09/11/2023, anh không muốn ly hôn, nhưng chị H lại cương quyết xin ly hôn anh. Anh T2 cũng đồng ý ly hôn với điều kiện chị H để anh nuôi dưỡng cháu N. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy, để xây dựng một gia đình hạnh phúc, vợ chồng phải cùng thương yêu nhau, có tiếng nói chung, cùng nhau bàn bạc thống nhất mọi vấn đề trong cuộc sống hằng ngày, nhưng cuộc hôn nhân của anh chị không đạt được điều đó, mâu thuẫn giữa chị H và anh T2 đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, chị H xin ly hôn anh T2 là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.
[2.3] Về con chung: Anh chị có hai con chung là Vũ Quang H1, sinh ngày 30/9/2003 và Vũ Trần Bảo N, sinh ngày 10/02/2013. Đối với cháu H1 đã đủ 18 tuổi, tự lập được, chị H và anh T2 không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết. Đối với cháu N cả chị H và anh T2 đều nhận nuôi. HĐXX xét thấy chị H là giáo viên mức thu nhập hàng tháng của chị H ổn định và cao hơn anh T2, hơn nữa chị có điều kiện về thời gian chăm sóc cháu. Cháu N là con gái khi cháu bước vào giai đoạn phát triển tâm sinh lý cần có sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ hơn. Mặt khác, cháu N cũng xin được ở với mẹ. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao cháu N cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh T2 cấp dưỡng nuôi cháu N hằng tháng.
[2.4] Về tài sản chung: Chị H và anh anh T2 tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[3] Về án phí: Chị Trần Thị Thu H phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, khoản 2 Điều 82, khoản 1 Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
4
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Thu H được ly hôn anh Vũ Văn T.
- Về con chung: Giao cháu Vũ Trần Bảo N, sinh ngày 10/02/2013 cho chị Trần Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng. Cháu Vũ Quang H1 đã đủ 18 tuổi, nên không xem xét giải quyết. Anh T2 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Đương sự tự thỏa thuận, nên HĐXX không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Trần Thị Thu H phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0001583 ngày 17/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hưng Yên. Chị H đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Chị H và anh T2 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Thị Kim Anh |
|
CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Thị Hệ Nguyễn Thị Bích Thu |
Vũ Thị Kim Anh |
5
6
Bản án số 30/2023/HNGĐ-ST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN - TỈNH HƯNG YÊN về ly hôn
- Số bản án: 30/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN - TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Văn K trộm cắp tài sản
