Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NAM TRỰC

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2023/HS-ST

Ngày: 16 - 11 - 2023

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn T

Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Xuân Chỉnh - Cán bộ Phòng Giáo dục & đào tạo huyện Nam Trực.

Ông Lê Trung T1.

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Minh, Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Nam Trực.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực tham gia phiên toà: Ông Lê Duy Khôi - Kiểm sát viên .

Ngày 16 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 48/2023/HSST ngày 12 tháng 10 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án xét xử số 49/2023/QĐXXST ngày 03 tháng 11 năm 2023 đối với:

1. Họ và tên: Trần Đức P, sinh ngày 23/4/2007; tên gọi khác: không; giới tính: nam; Nơi cư trú: Xóm E, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không. Đảng phái: không; Nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 10/12; bố đẻ: Trần Xuân D (đã chết ); mẹ đẻ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1976; hiện sinh sống tại xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo Trần Đức P bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 31/7/2023 đến nay.

Đại diện hợp pháp cho bị cáo Trần Đức P: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1976 ( là mẹ đẻ); nơi cư trú: Xóm E, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (có mặt);

Bị cáo Trần Đức P có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Đức M, sinh ngày 19/10/2004; tên gọi khác: không; giới tính: nam; nơi cư trú: Xóm G, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không. Đảng phái: không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; bố đẻ: Nguyễn Văn P1, sinh năm 1982; mẹ đẻ: Trần Thị T2, sinh năm 1985.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo Nguyễn Đức M bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 31/7/2023 đến nay.

Bị cáo Nguyễn Đức M có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

Anh Trần Xuân H, sinh năm 1994; địa chỉ: Tổ dân phố số A, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nam Định ( vắng mặt)

Anh Đỗ Ngọc H1 sinh năm 2004; địa chỉ: Tổ dân phố số A, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nam Định (vắng mặt);

Người bào chữa cho bị cáo Trần Đức P là: Bà Trần Thị N – Trợ giúp viên pháp lý, thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 05/6/2023, Vũ Ngọc T3, sinh năm 2006, ở tổ A, thị trấn N, huyện N cùng một số bạn của T3 bị một nhóm thanh niên ở thôn T, thị trấn N, huyện N đuổi đánh nên T3 bàn với một số người bạn của mình để tập hợp người đi tìm nhóm thanh niên thôn T, thị trấn N để đánh trả thù. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 06/6/2023, tại cổng làng thôn S, xã Đ, huyện N, Vũ Ngọc T3 kêu gọi và tập hợp được: Nguyễn Đình Q, sinh năm 2006, ở thôn Đ, xã N, huyện N; Vũ Thế T4, sinh năm 2005, ở thôn T, xã N, huyện N; Nguyễn Quang H2, sinh năm 2005, ở thôn Đ, xã N, huyện N; Nguyễn Minh H3, sinh năm 2005, ở xóm H, xã N, huyện N; Phạm Tuấn H4, sinh năm 2004, ở thôn S, xã Đ, huyện N; Trần Trung Đ, sinh năm 2005, ở thôn D, xã Đ, huyện N; Vũ Văn T5, sinh năm 2005, ở xóm D, xã Đ, huyện N; Đoàn Phúc T6, sinh ngày 08/9/ 2008, ở tổ I, thị trấn N, huyện N; Đoàn Hữu V, Đoàn Tiến L1, Đoàn Việt H5 cùng sinh năm 2007, cùng ở tổ A, thị trấn N, huyện N; Vũ Hải T7, sinh năm 2007, ở thôn P xã N, huyện N, cả nhóm bàn bạc và thống nhất tìm đánh nhóm thanh niên thôn T, thị trấn N. Sau đó, nhóm của T3 mang theo 04 tuýp kim loại (mỗi tuýp kim loại dài khoảng 1,5 mét) và một số vỏ chai bia thủy tinh làm hung khí rồi điều khiển nhiều xe mô tô theo đường tỉnh lộ 490C, hướng đi thị trấn N tìm đánh nhóm thanh niên thôn T. Trên đường đi, nhóm của T3 có gặp: Đỗ Đức T8, sinh năm 2005, ở xóm G, xã N, huyện N; Đỗ Minh Đ1, sinh năm 2005, ở xóm E, xã N, huyện N; Trần Đức P, sinh ngày 23/4/2007, ở xóm E, xã N; Nguyễn Đức M, sinh năm 2004 và Nguyễn Minh H3, sinh năm 2005, đều trú tại xóm G, xã N; Nguyễn Hưng T9, sinh năm 2005, ở thôn C, xã B. Nhóm của T3 rủ những người này đi cùng để tìm đánh nhóm thanh niên thôn T, thị trấn N thì được tất cả mọi người đồng ý. Sau đó cả nhóm của T3 đi nhiều xe mô tô từ đường tỉnh lộ 490C vào đường vàng B, đến khoảng 21 giờ cùng ngày, khi đi đến khu vực ngã ba đường V thuộc địa phận tổ dân phố số E, thị trấn N, huyện N, cả nhóm nhìn thấy tại khu vực vỉa hè của ngã ba có nhóm thanh niên gồm: Trần Xuân H, sinh năm 1994, ở tổ A, thị trấn N, huyện N; Đỗ Minh H6, sinh năm 2003, ở tổ A, thị trấn N, huyện N; Vũ Mạnh C, sinh năm 2005, ở tổ A, thị trấn N, huyện N; Nguyễn Minh Đ2, sinh năm 2006, ở tổ A, thị trấn N và Đỗ Ngọc H1, sinh năm 2004, ở tổ A, thị trấn N, huyện N đang ngồi chơi trên 03 xe mô tô biển số: 18K1-425.52, 18B2-395.61, 18K1-464.04. Lúc này T3 hô lên và chỉ về phía nhóm anh H để cả nhóm đi đến đánh, sau đó nhóm của T3 ném vỏ chai bia về phía nhóm anh H, nhóm anh H để lại 3 xe mô tô và bỏ chạy vào phía trong khu dân cư, thấy vậy một số người trong nhóm của T3 đuổi theo nhưng không đánh được nhóm của anh H. Lúc này khi thấy 03 xe mô tô của nhóm anh H để trên vỉa hè, Đoàn Phúc T6 cầm đoạn tuýp kim loại đập liên tiếp nhiều lần vào xe mô tô biển số 18B2-395.61 của anh H1, thấy vậy Trần Đức P cũng cầm đoạn tuýp kim loại đập liên tiếp nhiều lần vào xe mô tô biển số 18K1-425.52 của anh H. Sau đó, Trần Đức P ném đoạn tuýp kim loại xuống vỉa hè, tiếp đó Nguyễn Đức M nhặt đoạn tuýp kim loại của P lên tiếp tục đập nhiều lần vào xe mô tô biển số 18K1-425.52. Khi T6, PM đập 02 xe mô tô xong, cả nhóm vứt tuýp kim loại lại hiện trường rồi bỏ đi. Sau khi phát hiện xe mô tô của mình bị hư hỏng, anh Trần Xuân HĐỗ Ngọc H1 có đơn trình báo đến Công an huyện N

Ngày 10/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N vật chứng gồm: 02 xe mô tô cùng nhãn hiệu Honda Wave Anpha, màu trắng, biển số 18K1-425.52 và 18B2-395.61; 01 đoạn tuýp kim loại, dài 150cm, đường kính 2,1cm thu tại hiện trường; 05 mảnh thủy tinh vỏ chai bia vỡ thu tại hiện trường. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã xử lý vật chứng trả lại 02 chiếc xe mô tô biển số 18B2-395.61 và 18K1-425.52 cho chủ sở hữu.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 15 ngày 27/6/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện N kết luận: Giá trị thiệt hại của xe mô tô biển số 18B2-395.61 là 870.000 đồng và giá trị thiệt hại của xe mô tô biển số 18K1-425.52 là 2.580.000 đồng. Tổng giá trị thiệt hại là: 3.450.000 đồng.

Trong quá trình điều tra, gia đình bị cáo Nguyễn Đức M, Trần Đức P và gia đình Đoàn Phúc T6 đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho anh Trần Xuân H và anh Đỗ Ngọc H1 số tiền là 3.450.000 đồng. Anh H và anh H1 không có yêu cầu bồi thường, khắc phục hậu quả gì khác.

Tại bản cáo trạng số: 46/CT-VKS ngày 07 tháng 9 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định truy tố các bị cáo Trần Đức PNguyễn Đức M về tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự

Tại Cơ quan điều tra, Trần Đức PNguyễn Đức M đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo Trần Đức PNguyễn Đức M đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Trần Đức P đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Đức PNguyễn Đức M phạm tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 36; Điều 58; Điều 91; Điều 98, Điều 101; Điều 100 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Đức P.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đức M.

Xử phạt bị cáo Trần Đức P từ 09 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức M từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 đoạn tuýp kim loại, dài 150cm, đường kính 2,1cm; 05 mảnh thủy tinh vỏ chai bia vỡ thu tại hiện trường.

Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Đức P vắng mặt nhưng gửi bản luận cứ được công bố tại phiên tòa có nội dung trình bày: Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực truy tố đối với hành vi của bị cáo Trần Đức P là đúng người đúng tội, đúng pháp pháp. Bị cáo P đã thành khẩn, năn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại; bị cáo lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo chưa thành niên nhận thức pháp luật và khả năng kiềm chế hành vi còn hạn chế do vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo bằng hình phạt cải tạo không giam giữ tạo điều kiện cho bị cáo sửa chữa sai lầm.

Các bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo P không có ý kiến tranh luận gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực.

Bị cáo Trần Đức PNguyễn Đức M nói lời sau cùng: Các bị cáo đều nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng của vụ án và bản kết luận định giá tài sản số 15/KLĐG ngày 27/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự huyện N đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa.

Như vậy có cơ sở khẳng định: Khoảng 21 giờ ngày 06/6/2023, tại khu vực ngã ba đường V, thuộc tổ dân phố số E, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nam Định, Đoàn Phúc T6 dùng tuýp kim loại đập nhiều lần vào xe mô tô biển số 18B2-395.61 của anh Đỗ Ngọc H1 làm xe bị hư hỏng với giá trị thiệt hại 870.000 đồng, Trần Đức PNguyễn Đức M đã cùng nhau dùng 01 tuýp kim loại đập nhiều lần vào xe mô tô biển số 18K1-425.52 của anh Trần Xuân H làm xe bị hư hỏng với giá trị thiệt hại là 2.580.000 đồng.

Hành vi của bị cáo Trần Đức PNguyễn Đức M đã phạm vào tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.

Đối với Đoàn Phúc T6, sinh ngày 08/9/2008 là người cùng với Trần Đức PNguyễn Đức M có hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản, tuy nhiên T6 là người dưới 16 tuổi (14 tuổi 08 tháng 28 ngày) nên không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự, vì vậy Công an huyện N đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Đoàn Phúc T6 là có cơ sở.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân, làm ảnh hưởng đến an toàn, trật tự công cộng cũng như công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, giữ gìn kỷ cương, tăng cường pháp chế XHCN.

Trong vụ án này, Trần Đức PNguyễn Đức M phạm tội đồng phạm giản đơn và có cùng vai trò trong việc thực hiện hành vi phạm tội.

[4] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo thì thấy:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan CSĐT công an huyện N và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trong; đã tự nguyện tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại và khắc phục hậu quả nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b,i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Xét nhân thân, tính chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bị cáo Trần Đức PNguyễn Đức M có nhân thân tốt có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội.

Bị cáo Trần Đức P khi thực hiện hành vi phạm tội là người chưa thành niên, khả năng nhận thức về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội còn hạn chế, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố mất sớm, mẹ bị cáo làm nông nghiệp thu nhập thấp, bị cáo thiếu sự giám sát giáo dục của gia đình. Việc xử lý đối với bị cáo P cần phải đảm bảo lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi, chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội. Do vậy cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ là phù hợp, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện để bị cáo cải tạo sửa chữa lỗi lầm theo quy định tại Điều 36, Điều 100 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Nguyễn Đức M cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, để bị cáo tự cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực là phù hợp.

[5] Về vật chứng: Đối với 02 xe mô tô biển số 18B2-395.61 và 18K1-425.52 Cơ quan CSĐT công an huyện N đã trả lại cho người quản lý hợp pháp là có cơ sở nên không đặt ra xem xét giải quyết. Đối với 01 đoạn tuýt kim loại, dài 150 cm; đường kính 2,1 cm và 05 mảnh thủy tinh vỏ chai bia vỡ là công cụ phương tiện phạm tội, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, bị hại đã được bồi thường toàn bộ thiệt hại và không có yêu cầu bồi thường gì khác, nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Trần Đức PNguyễn Đức M phạm tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 91; Điều 98, Điều 101; Điều 36; Điều 100 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Đức P 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo Trần Đức P cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định, giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo. Thời hạn cải tạo không giam giữ của bị cáo được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức M 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 16/11/2023;

Giao bị cáo Nguyễn Đức M cho Ủy ban nhân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án Hình sự.

3.Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 đoạn tuýt kim loại, dài 150 cm; đường kính 2,1 cm và 05 mảnh thủy tinh vỏ chai bia vỡ.

(Toàn bộ vật chứng nêu trên của vụ án đang được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nam Trực theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 07 tháng 9 năm 2023).

4.Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án bị cáo Trần Đức PNguyễn Đức M mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5.Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Đức PNguyễn Đức M và người đại diện theo pháp luật cho bị cáo Trần Đức P có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người bào chữa cho bị cáo Trần Đức P có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Đại diện cho bị cáo Trần Đức Phúc;
  • - Người bào chữa;
  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND huyện Nam Trực;
  • - Cơ quan THA hình sự, huyện Nam Trực;
  • - Chi cục THA dân sự H. Nam Trực;
  • - UBND xã Nam Dương;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2023/HS-ST ngày 16/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự sơ thẩm về tội cố ý làm hư hỏng tài sản

  • Số bản án: 57/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Đức P và Nguyễn Đức M (Cố ý hủy hoại tài sản)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger