|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH PHÚ THỌ |
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 57/2024/DS - PT
Ngày 16 tháng 8 năm 2024
“V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Huyền;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Khắc Chiên.
Bà Điêu Thị Bích Lượt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Vân-Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Lê
Thị Thanh Hải - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 12 và 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 52/2024/TLPT-DS ngày 14 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 06/2024/DS-ST ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 06/2024/QĐPT - DS ngày 15 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 500/2024/QĐ- PT ngày 29/7/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị B, sinh năm 1970; địa chỉ: Khu C, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
Bị đơn: Ông Bùi Văn C, sinh năm 1956; địa chỉ: Khu C, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Bùi Văn V, sinh năm 1966 (Chồng bà B); địa chỉ: Khu C, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1958 (là vợ ông C); địa chỉ: Khu C, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ(có mặt).
- Anh Bùi Ngọc H1, sinh năm 1984 (là con ông C); địa chỉ: Khu C, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ(vắng mặt).
- Chị Bùi Thị Hồng T, sinh năm 1982 (là con ông C); địa chỉ: Khu C, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ(vắng mặt).
- Anh Bùi Hoàn H2, sinh năm 1989 (là con ông C); địa chỉ: Khu C, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ( vắng mặt).
- Chị Bùi Thị Hồng H3, sinh năm 1987 (là con ông C); địa chỉ: Khu C, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).
Người đại diện theo uỷ quyền của ông V: Bà Hoàng Thị B, sinh năm 1970; địa chỉ: Khu C, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 08/11/2023, tại bản tự khai; quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Hoàng Thị B có quan điểm trình bày: Vợ chồng bà có thửa đất thổ cư nguồn gốc của bố mẹ chồng bà là ông Bùi Văn U và bà Trần Thị T1 cho sau khi vợ chồng bà kết hôn năm 1990, tại khu Đ, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ; trên đất có một ngôi nhà gỗ; vợ chồng bà ở từ năm 1990, đến năm 1991, do gia đình khó khăn, ông V đi làm xa, bà lại về nhà bố mẹ đẻ ở nên ngôi nhà này đóng cửa, đến năm 1996 vợ chồng bà đã quay trở lại tiếp tục ở trên nhà và đất này. Năm 1999 gia đình bà được Ủy ban nhân dân (UBND) huyện S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này là thửa đất 39, tờ bản đồ 03, (loại bản đồ 299), diện tích 746m²; trong đó có 400m² đất ở và 346m² đất cây lâu năm. Nến năm 2011, gia đình bà được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới là thửa đất số 726, tờ bản đồ số 06; diện tích tăng từ 746m² lên 1.239,5m²; trong đó có 400m² ở, 346m², còn lại là 493,5m² là đất ruộng, đây là diện tích tăng thêm do gia đình bà thực hiện đổi đất hộ có ruộng liền kề sau đó xin cấp chung thành một thửa đất.
Trong quá trình sử dụng đất, vị trí thửa đất của gia đình bà giáp thửa đất số 40, tờ bản đồ số 3 (loại bản đồ 299) của hộ gia đình ông Bùi Văn C; từ thời điểm bà mới được bố mẹ chồng cho thì gianh giới ngăn giữa hai thửa đất là hàng rào cây xanh, sau đó gia đình ông Bùi Văn C xây tường rào bằng gạch xi măng ngăn cách hai thửa đất; khi xây tường rào, bà thấy gia đình ông C đã tường rào lấn sang đất của gia đình bà, bà có nói lại với ông C về việc gia đình ông C xây tường rào lấn sang đất của gia đình bà, nhưng vì gia đình ông C đã xây tường rào bằng gạch kiên cố nên bà không đề nghị chính quyền địa phương xã T giải quyết tranh chấp.
Năm 2022, gia đình ông C làm nhà, sau đó xây lại tường rào đã đập bỏ một phần tường rào để xây lại, còn một phần thì xây tường nhà kho trên vị trí tường cũ đã lấn chiếm đất của bà trước đây, bà đã yêu cầu phải dừng việc xây dựng lại nhưng ông C cho rằng ông xây đúng vị trí móng tường rào cũ, không lấn đất của gia đình bà nên tiếp tục xây tường nhà kho; bà cho rằng ông C xây nhà kho và xây tường rào trước đây đã có hành vi lấn sang thửa đất của gia đình bà, tổng diện tích lấn chiếm khoảng hơn 20m², bà đã yêu cầu UBND xã T hoà giải nhưng kết quả không thành. Nên bà khởi kiện yêu cầu ông C phải trả lại diện tích đất đã lấn chiếm đối với thửa đất số 726, tờ bản đồ số 06, tại khu Đ, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ cho bà.
Bị đơn ông Bùi Văn C tại bản tự khai ngày 06 tháng 12 năm 2023 và quá trình tố tụng có quan điểm trình bày: Năm 1982, ông và vợ là bà Nguyễn Thị H được UBND xã T giao cho thửa đất thổ cư số 40, tờ bản đồ số 3, diện tích 418m², (trong đó có 400m² đất ở và 18m² đất vườn) giáp thửa đất số 39, tờ bản đồ số 03 của bố mẹ đẻ ông Bùi Văn V; sau đó ông V và bà B kết hôn năm 1990 thì bố mẹ ông V cho vợ chồng ông V, bà B thì ông bà mới về ở trên thửa đất này; ngăn cách giữa hai thửa đất là hàng rào cây xanh, trong quá trình sử dụng đất, gia đình ông đổi thêm diện tích đất liền kề, sau đó mới và đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên diện tích trong bản đồ là 418m², nhưng khi được UBND huyện S cấp tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1999 thì diện tích được công nhận là 1000m². Năm 2011, gia đình ông tiếp tục được UBND huyện C đo đạc lại và cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là thửa số 683, tờ bản đồ số 06, diện tích đất thực tế tăng lên 1.048,8m²;
Trong quá trình sử dụng đất, do địa hình thửa đất của gia đình ông thấp hơn thửa đất của gia đình bà B khoảng 1 mét nên khoảng năm 2006, gia đình ông xây tường rào bằng gạch xi măng thì đào móng tường hoàn toàn thuộc đất của gia đình ông và khi xây tường rào thì gia đình bà B đều biết và còn đồng ý cho gia đình ông lợp bờ lô xi măng lán củi sang đất của bà B để cho nước không bị chảy vào lán củi nhà ông. Tháng 8 năm 2022, sau khi nhà ông làm xong nhà thì ông đập bỏ lán củi và xây kín thành một gian nhà kho để đồ đạc, gia đình ông có đập bỏ tường gạch cũ là gianh giới giữa hai thửa đất, đào lại xâu móng trên nền móng cũ để xây lại kho kiên cố hơn; khi xây bà B và mọi người trong gia đình bà B đều biết, không có ý kiến gì nên gia đình ông đã xây hoàn thành kho chứa đồ, còn phần tường rào thì gia đình ông chỉ đạp bỏ phần gạch phía trên mặt đất, giữ nguyên móng tường cũ và xây gạch chỉ cao tiếp lên trên; sau khi xây tường rào và một gian nhà kho xong được một thời gian thì tháng 12/2022, bà B lại có đơn đề nghị UBND xã T giải quyết việc gia đình ông lấn chiếm đất của gia đình bà, sau đó khởi kiện cho rằng ông xây tường rào lấn đất của gia đình bà.
Nay ông cho rằng ông xây nhà kho và tường rào của gia đình không có hành vi lấn chiếm đất của gia đình bà B vì móng tường rào và móng gian nhà kho vẫn được xây dựng trên móng tường rào cũ đã xây dựng từ năm 2006, nên ông không lấn chiếm đất của của gia đình bà B nên ông không đồng ý trả lại quyền sử dụng đất theo yêu cầu của bà B.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Bùi Văn V(là chồng bà B)tại biên bản lấy lời khai ngày 20 tháng 02 năm 2024 có quan điểm nhất trí như trình bày của bà B và uỷ quyền cho bà Hoàng Thị B tham gia tố tụng.
+ Chị Bùi Thị T2 và anh Bùi Quang T3 (là con của bà B)đều có quan điểm xác định thửa đất số 726, tờ bản đồ số 06 là tài sản riêng của ông V, bà B nên từ chối tham gia tố tụng tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án (Tại bản tự khai ngày 11 tháng 12 năm 2023).
+ Bà Nguyễn Thị H(là vợ ông C); chị Bùi Ngọc H1, chị Bùi Thị Hồng T, anh Bùi Hoàn H4 chị Bùi Thị Hồng H3 (là con ông Bùi Văn C) đều có quan điểm trình bày nhất trí nội dung trình bày của ông Bùi Văn C.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản trên phần diện tích đất tranh chấp: Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ đã đo định vị, xác định hiện trạng sử dụng đất đối với thửa đất số 726, tờ bản đố số 06, của hộ bà B đang sử dụng có diện tích là 1.217,4m², so với diện tích 1.239,5m², được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2011, giảm 22,1m².
Đo hiện trạng thửa đất số 683, tờ bản đồ số 06, của hộ ông C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2011, là 1.239,5m2, diện tích hiện đang sử dụng 1.064,4,m², là tăng 15.6m².
Kết quả định vị diện tích đo cấp đổi quyền sử dụng đất đối với hai thửa đất năm 2011 so với kết quả định vị hai thửa đất tại thời điểm xảy ra tranh chấp đã xác định: Tại vị trí tranh chấp ông C xây dựng tường rào và xây một gian nhà kho đã xây lấn sang thửa đất số 726, tờ bản đồ số 03 của hộ bà B là 15m² và định giá, xác định đất tranh chấp là đất vườn, trị giá 200.000 đồng/m2.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 06/2024/DS-ST ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 157 và Điều 165 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Căn cứ Điều 8, 75 và Điều 176 của Bộ luật dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 12; Điều 166, Điều 170 và khoản 1 Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013; Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26, điểm b khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự. Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị B về việc yêu cầu ông Bùi Văn C phải trả lại 15m² đất thuộc thửa đất số 726, tờ bản đồ số 06, diện tích 1.239,5m² đã lấn chiếm; tại khu C (tức khu Đ, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ (có sơ đồ đo hiện trạng phần diện tích đất tranh chấp kèm theo), nhưng buộc ông Bùi Văn C phải thanh toán bằng giá trị quyền sử dụng đối với 15m² đất đã lấn chiếm trị giá 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) cho bà Hoàng Thị B.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật.
Kháng cáo:
Ngày 03/5/2024 bà Hoàng Thị B là nguyên đơn kháng cáo toàn bộ nội dung vụ án theo quy định của pháp luật, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà.
Ngày 08/5/2024 ông Bùi Văn C là bị đơn kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại.
Ngày 06/5/2024 bà Nguyễn Thị H (là vợ ông C) là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại.
Tại phiên toà phúc thẩm: Ông Bùi Văn C, bà Nguyễn Thị H, bà Hoàng Thị B1 nguyên yêu cầu kháng cáo và không cung cấp tài liệu chứng cứ mới.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm: Về tố tụng Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật về tố tụng.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308. Không chấp nhận kháng cáo của ông Bùi Văn Chân, bà Hoàng Thị B, bà Nguyễn Thị H. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2024/DS- ST ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Bùi Văn Chân, bà Hoàng Thị B, bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, ông Bùi Văn C1, bà Nguyễn Thị H là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định. Bà Hoàng Thị B phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện VKSND tỉnh; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1]. Kháng cáo của ông Bùi Văn C, bà Nguyễn Thị H5, bà Hoàng Thị B đơn kháng cáo được thực hiện trong thời hạn quy định nên đủ điều kiện xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
- [2]. Xét nội dung kháng cáo của bà Hoàng Thị B2, Hội đồng xét xử xét thấy: Tài liệu có trong hồ sơ thể hiện: Thửa đất số 726, tờ bản đồ số 06 của hộ bà Hoàng Thị B có nguồn gốc là thửa đất 39, tờ bản đồ 03, (loại bản đồ 299) của bố mẹ chồng của bà B cho vợ chồng bà, sau khi kết hôn vợ chồng ra ở riêng trên thửa đất này có một ngôi nhà gỗ. Còn thửa đất số 683, tờ bản đồ số 06 của hộ ông Bùi Văn C có nguồn gốc do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ giao cho vợ chồng ông C, bà H5 sử dụng khoảng năm 1980 là thửa đất số 40, tờ bản đồ số 3, hai thửa đất này có một cạnh giáp nhau và cả hai thửa đất đều được UBND huyện S (nay là huyện C) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu năm 1999; trong đó thửa đất số 39, tờ bản đồ số 3, diện tích cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1999 là 746m². Thửa đất số 40, tờ bàn đồ số 03, diện tích khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1999 là 1.000m².
Năm 2011, hộ ông C và ông V đều đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cả hai thửa đất khi cấp đổi đều được đo định vị mốc giới và số đo các cạnh thửa đất; khi thực hiện thủ tục cấp đổi đã thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũ, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới, thửa đất số 726, tờ bản đồ số 06 của hộ ông Bùi Văn V (chủ hộ) tích sử dụng là 1.239,5m² và thửa đất số 683, tờ bản đồ số 06 của hộ ông Bùi Văn C (chủ hộ) diện tích 1048,8m². Sau khi cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các hộ đều được giao quản lý, sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp đổi năm 2011, có sơ đồ thửa đất thể hiện rõ hình thể, vị trí thửa đất kèm theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau khi hai bên được nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có khiếu nại gì. Như vậy, sau khi cấp đổi giấy chứng nhận đất mới, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng cũ thì phải công nhận vị trí, hình thể, diện tích từng thửa đất và các bên có quyền sử dụng đã được đo đạc và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2011.
Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 29/02/2024, bà B và ông C đều tham gia chỉ mốc giới hiện trạng sử dụng đất của các bên. Kết quả đo đã xác định được phần diện tích đất của hộ ông C xây tường rào bằng gạch xi măng lấn sang thửa đất số 726 là 4,4m²; phần diện tích đất hộ ông C xây dựng 01 gian nhà kho lấn sang phần diện tích thửa đất số 726 là 10,6m². Tổng diện tích hộ ông C xây lấn sang phần diện tích đất thửa đất số 726 của hộ bà B là 15m² là có căn cứ nên phải buộc ông C trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm cho bà B.
Quá trình giải quyết vụ án tài liệu có trong hồ sơ thể hiện tại (BL 68 – 69): “... vợ chồng tôi có sang hỏi vợ chồng ông C và bà H5 tại sao lại xây tường rào trên thửa đất của vợ chồng tôi nhưng do ông C và bà H5 đã xây tường rào xong nên vợ chồng tôi không đề nghị tháo dỡ tường rào. Đến năm 2022, vợ chồng ông C, bà H5 làm nhà có phá tường rào để xây nhà, tôi có đê nghị khong cho vợ chồng ông C, bà H5 xây tường rào vì ông bà đã đào móng tường rào sang phần đất của gia đình bà...”. Như vậy, việc bà B biết việc ông C xây tường rào lấn chiếm quyền sử dụng đất trong thời gian dài và khi xây tường nhà kho bà B cũng thừa nhận ông C tiếp tục xây dựng trên vị trí móng tường cũ thể hiện bà B đều biết việc ông C xây dựng nhưng bà cũng không kịp thời đề nghị chính quyền địa phương giải quyết dứt điểm ngay tại thời điểm ông C xây dựng, mà để ông C xây tường rào, tường nhà kho kiên cố, có giá trị lớn, trị giá là 37.360.000 đồng. Nên phải xác định, bà B cũng có lỗi trong việc không kịp thời đề nghị giải quyết dứt điểm tranh chấp để vụ việc kéo dài. Hội đồng định giá đã xác định phần đất gia đình ông C xây lấn thuộc phần diện tích đất vườn và phần diện tích đất này không ảnh hưởng đến nhà, công trình kiên cố và không ảnh hưởng lớn cuộc sống của hộ bà B. Do vậy, để đảm bảo tính ổn định tài sản, Tòa án cấp sơ thẩm đã buộc ông C phải thanh toán giá trị 15m² đất trồng cây lâu năm thuộc thửa đất số 726, tờ bản đồ số 06 cho bà B, tương ứng trị giá 3.000.000đồng và giao cho ông C được sử dụng diện tích 15m² đất thuộc thửa số 726, tờ bản đố 06 của hộ bà B là phù hợp, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà Hoàng Thị B.
- [3]. Kháng cáo của ông Bùi Văn C, bà Nguyễn Thị Hoa đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại phán quyết của Tòa án cấp sơ thẩm. Hội đồng xét xử xét thấy: Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện: Tại Biên bản hòa giải tranh chấp đất đai giữa ông Bùi Văn C và ông Bùi Văn V tại Ủy ban nhân dân xã T ngày 07/02/2023 (BL 10); Biên bản làm việc v/v Kiểm tra hiện trạng sử dụng đất của hai hộ ông C và ông V (BL 6 – 7). Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc tại thực địa thể hiện (có bản đo vẽ kèm theo) xác định hộ gia đình ông C xây lấn sang đất của hộ bà Hoàng Thị B là 15m². Điều này phù hợp tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và quá trình tố tụng và lời trình bày của các đương sự, khi gia đình ông C xây lại nhà kho gia đình ông C và gia đình bà B đã xảy ra mâu thuẫn phải nhờ chính quyền địa phương giải quyết tranh chấp đất đai. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc gia đình ông Bùi Văn C phải trả cho gia đình bà Hoàng Thị B 15m² đất đã lấn chiếm, tuy nhiên ông C phải thanh toán bằng giá trị quyền sử dụng đất là 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) là phù hợp. Do vậy, kháng cáo của ông Bùi Văn C, bà Nguyễn Thị H5 không được chấp nhận.
Quá trình giải quyết tại Tòa án cấp sơ thẩm, ông Bùi Văn C và bà Nguyễn Thị H thuộc trường hợp người cao tuổi, tuy nhiên ông C, bà H không có đơn đề nghị được miễn án phí theo quy định. Tại Tòa án cấp phúc thẩm ông Bùi Văn C và bà Nguyễn Thị H có đơn đề nghị được miễn án phí dân sự sơ thẩm và án phí phúc thẩm theo quy định. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí cho ông Bùi Văn C và bà Nguyễn Thị H theo quy định của pháp luật. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí mà ông Bùi Văn C, bà Nguyễn Thị H đã nộp.
Từ những nhận định tại mục [2], [3], Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bà Hoàng Thị B, ông Bùi Văn C và bà Nguyễn Thị H. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2024/DS- ST ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ
Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- [4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
- [5].Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Hoàng Thị B3 Bùi Văn C và bà Nguyễn Thị H6 chịu án phí phúc thẩm theo quy định, tuy nhiên ông C, bà H thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự. Không châp nhận kháng cáo của bà Hoàng Thị B; ông Bùi Văn C và bà Nguyễn Thị H. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2024/DS- ST ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147, Điều 148; Điều 157 và Điều 165 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Căn cứ Điều 8, 75 và Điều 176 của Bộ luật dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 12; Điều 166, Điều 170 và khoản 1 Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26, điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm b khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự. Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị B về việc yêu cầu ông Bùi Văn C phải trả lại 15m² đất thuộc thửa đất số 726, tờ bản đồ số 06, diện tích 1.239,5m² đã lấn chiếm; tại khu C (tức khu Đ, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ (có sơ đồ đo hiện trạng phần diện tích đất tranh chấp kèm theo), nhưng buộc ông Bùi Văn C phải thanh toán bằng giá trị quyền sử dụng đối với 15m² đất đã lấn chiếm trị giá 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) cho bà Hoàng Thị B.
- Về chi phí tố tụng: Buộc ông Bùi Văn C phải hoàn trả lại cho bà Hoàng Thị B số tiền tạm ứng chi phí tố tụng bà B đã nộp là 5.000.000đ (Năm triệu đồng).
- Về án phí:
- - Án phí dân sự sơ thẩm:
- + Ông Bùi Văn C và bà Nguyễn Thị H được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
- + Hoàn trả lại cho bà Hoàng Thị B số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) bà B đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004746 ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
- - Án phí dân sự phúc thẩm:
- + Ông Bùi Văn C và bà Nguyễn Thị H được miễn án phí theo quy định của pháp luật. Hoàn trả cho ông Bùi Văn C 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004858 ngày 15/5/2024 và bà Nguyễn Thị H7 (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004859 ngày 15/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
- + Bà Hoàng Thị B phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm. Xác nhận bà Hoàng Thị B đã nộp 300.000₫ tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0004853 ngày 09/5/2024 Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê.
- - Án phí dân sự sơ thẩm:
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thị Thu Huyền |
Bản án số 57/2024/DS - PT ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 57/2024/DS - PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất giữa bà B và ông C
