Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 57/2024/HS-ST

Ngày 16 – 5 – 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

+ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Anh Tuấn

+ Các Hội thẩm nhân dân:- Ông Lê Anh Dũng

- Ông Trần Đình Đậu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Như Hoa, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải, Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2024/QĐXX-HS ngày 26/4/2024; đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Huy T - sinh ngày: 24/12/1981;

Nơi ĐKHKTT + Chỗ ở: Thôn N, xã P, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Quốc V, sinh năm 1951 và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1957; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Lương Thị D, sinh năm 1984 và có 02 con; L sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2006; Tiền án: Không; Tiền sự 01, tại Quyết định về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn số A ngày 20/10/2022, của UBND xã P, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc đối với T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy thời hạn giáo dục xã, phường, thị trấn, quản lý tại gia đình là 03 tháng, từ ngày 20/10/2022 đến ngày 20/01/2023; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ 20/01/2024 đến nay; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P; (Có mặt);

2. Họ và tên: Ngô Bá Q - sinh ngày: 19/7/1979;

Nơi ĐKHKTT + Chỗ ở: Khu H, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 07/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Ngô Đức T1, sinh năm 1954 và bà Phạm Thị D1, sinh năm 1954; Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Trần Thị T2, sinh năm 1983 và có 02 con; Lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ 18/01/2024 đến nay; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P; (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 50 phút ngày 18/01/2024, tại khu C, xã H, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Tổ công tác Công an thành phố V đang làm nhiệm vụ phát hiện, bắt quả tang Ngô Bá Q, sinh năm: 1979. HKTT: Khu H, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại chỗ, Q tự giác giao nộp cho cơ quan Công an 01 gói gói giấy có đặc điểm là gói giấy mặt ngoài và mặt trong đều màu trắng bạc, bên trong có chứa chất bột cục màu trắng, Q khai đây là gói ma tuý Heroine của Q, mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong 01 gói ma túy có đặc điểm như đã nêu trên, đồng thời, tạm giữ của Q: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu xanh đã cũ số imei 1: 357213102136171, Imei2: 357213102346184, 01 sim số 0987.062.949; Tiền Việt Nam 40.000đồng.

Về nguồn gốc số ma túy thu giữ của Q, Q khai nhận: Do bản thân có nhu cầu sử dụng ma tuý nên khoảng 10 giờ 30 phút ngày 18/01/2024, Ngô Bá Q một mình đi nhờ xe ôm không quen biết sang nhà Nguyễn Huy T, sinh năm 1981. HKTT: Xã P, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc để hỏi mua ma tuý. Khi đến khu vực bờ đê gần nhà T, Q có gặp T và hỏi mua của T 800.000đ tiền ma tuý. Tưởng đồng ý và nhận 800.000đ của Q đưa và nói với Q chờ ở đó, rồi T đi đâu Q không biết. Một lúc sau, T quay lại đưa cho Q 02 gói ma tuý heroine có đặc điểm đều là gói giấy mặt ngoài và mặt trong màu trắng bạc, bên trong có chứa chất bột cục màu trắng là ma tuý heroine. Sau đó, T đi đâu Q không biết, còn Q cầm 02 gói ma tuý vừa mua được đi bộ về, trên đường về Q đi vào một bãi đất trống vắng người lấy 01 gói ma tuý sử dụng hết cho bản thân bằng hình thức hít vào cơ thể. Gói ma tuý còn lại Q cầm tay phải rồi tiếp tục đi về. Khi Q đến khu vực bến đò thuộc xã H, thành phố V, tỉnh Phú Thọ thì bị Tổ công tác Công an thành phố V phát hiện, kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Căn cứ lời khai của Ngô Bá Q, ngày 20/01/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố V đã tiến hành khám xét chỗ ở của Nguyễn Huy T, thu giữ của Tưởng 01 gói giấy mặt ngoài và mặt trong mầu trắng bên trong có chứa 01 gói giấy mặt ngoài có hoa văn nhiều màu sắc, mặt trong màu trắng bên trong có chứa chất bột cục màu trắng, T khai nhận là ma túy Heroine của T mục đích để bán, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen đã cũ, số Imei: 355634048590399, kèm sim số: 0397.505.898; 01 mảnh giấy bạc bị cháy xém; Tiền Việt Nam: 300.000 đồng, Cơ quan điều tra đã giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Tưởng. Tưởng đã khai nhận toàn bộ hành vi bán ma túy cho Ngô Bá Q ngày 18/01/2024.

Tại biên bản kiểm tra kết quả xét nghiệm ma tuý bằng que thử nước tiểu đối với Ngô Bá QNguyễn Huy T cho kết quả: Q và T đều dương tính với chất ma tuý.

Ngày 18/01/2024, Cơ quan điều tra ra quyết định trưng cầu giám định đối với số chất bột cục màu trắng thu giữ của Ngô Bá Q. Tại Kết luận giám định số 149/KL-KTHS ngày 24/01/2024 của Phòng KTHS- Công an tỉnh P, kết luận: “Chất bột, cục màu trắng chứa trong 01 gói giấy mặt ngoài và mặt trong đều màu trắng bạc Bì niêm phong gửi đến giám định là chất ma túy, có khối lượng là: 0,201 gam. loại Heroine, * Heroine: số thứ tự 09, Danh mục IA, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ. H lại 0,153 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định đã được niêm phong”.

Ngày 20/01/2024, Cơ quan điều tra ra quyết định trưng cầu giám định đối với số chất bột cục màu trắng thu giữ của Nguyễn Huy T. Tại Kết luận giám định số 148/KL-KTHS ngày 23/01/2024 của Phòng KTHS- Công an tỉnh P, kết luận: “Chất bột, cục màu trắng chứa trong 01 gói giấy gửi đến giám định là chất ma túy, có khối lượng là: 0,223 gam. loại Heroine, * Heroine: số thứ tự 09, Danh mục IA,, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ. H lại 0,147 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định đã được niêm phong”.

Về nguồn gốc số ma túy Nguyễn Huy T đã bán cho Ngô Bá Q, T khai nhận: Ngày 18/01/2024, sau khi cầm 800.000 đồng tiền của Q, T nói với Q đợi và một mình đi ra khu vực gần bờ sông thuộc xã P, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc tìm mua ma túy. Tại đây T có gặp và mua được 03 gói ma túy heroine với giá 500.000₫ của một người đàn ông khoảng 50 tuổi tên B (T không biết tên cụ thể và địa chỉ ở đâu). Sau đó T đi về gặp Q và đưa cho Q 02 gói ma túy gói bằng 01 lớp giấy bạc. Q cầm 02 gói ma túy đi đâu T không biết. Còn T cầm gói ma túy còn lại đi ra khu vực vắng người tách lấy một ít sử dụng cho bản thân, phần còn lại Tưởng gói lại như cũ rồi cất trong túi quần mục đích để có ai hỏi mua Tưởng sẽ bán với giá 200.000đ. Đến ngày 20/01/2024, khi T đang ở nhà thì Công an thành phố V tiến hành khám xét khẩn cấp thu giữ vật chứng như đã nêu trên.Tại chỗ Tưởng đã khai nhận toàn bộ hành vi bán ma túy cho Ngô Bá Q ngày 18/01/2024.

Ngày 20/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố V đã tiến hành đối chất giữa Q và T, Q và T đã thừa nhận hành vi như đã nêu ở trên.

Tại Cáo trạng số: 50/CT-VKS-VT ngày 16 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Nguyễn Huy T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Ngô Bá Q về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố; sau khi luận tội đề nghị Hội đồng xét xử:

* Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huy T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Bị cáo Ngô Bá Q phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Căn cứ vào:

- Khoản 1, 5 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Đối vối bị cáo Nguyễn Huy T;

- Điểm c khoản 1, 5 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Đối vối bị cáo Ngô Bá Q;

- Điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điểm a, b, c khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy T từ 33 tháng đến 36 tháng tù.

- Xử phạt bị cáo Ngô Bá Q từ 21 tháng đến 24 tháng tù.

* Về hình phạt bổ sung: Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu xanh đã cũ, số Imei 1: 357213102136171, Imei2: 357213102346184 cùng với số tiền 40.000 đồng, thu giữ của bị cáo Q và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen đã cũ, số Imei: 355634048590399 thu giữ của bị cáo T.

* Về vật chứng:

- Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 300.000 đồng thu giữ của bị cáo T là tiền do T bán ma túy cho Q mà có;

- Tịch thu tiêu hủy: 01 sim số 0987.062.949 lắp trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu xanh đã cũ, của bị cáo Q và 01 sim số: 0397.505.898 lắp trong điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen đã cũ, của bị cáo T;

- Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong số 148/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh P bên trong có chứa 0,147 gam ma túy Heroine còn lại sau giám định; 01 bì niêm phong số 149/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh P bên trong có chứa 0,153 gam ma túy Heroine còn lại sau giám định và 01 mảnh giấy bạc bị cháy xém.

- Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, T diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đó thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung:

- Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với các các bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Nguyễn Huy TNgô Bá Q đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau: Khoảng 11 giờ ngày 18/01/2024, tại khu vực gần bờ đê thuộc xã P, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Huy T đã bán cho Ngô Bá Q 02 gói ma túy Heroine với giá 800.000 đồng. Số ma tuý này Q đã sử dụng 01 gói, còn lại khối lượng 0,201 gam Heroine thì đến 11 giờ 50 phút ngày 18/01/2024, tại khu vực bến đò thuộc khu C, xã H, thành phố V, tỉnh Phú Thọ Quang bị Tổ công tác Công an thành phố V kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Ngoài ra, T còn có hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 0,223 gam ma tuý Heroine với mục đích để bán.

- Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với thời gian địa điểm nơi xảy ra vụ án và phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở và căn cứ pháp lý để kết luận bị cáo Nguyễn Huy T đã phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt mà bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Nguyễn Bá Q1 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt mà bị cáo Q1 phải chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Như nội dung cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c. Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR- 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

- Đánh giá tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, thể hiện sự coi thường bất chấp pháp luật, gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân và ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý các bị cáo thật nghiêm trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

- Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cần xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các các bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn, hối cải, nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Nên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Nhưng bị cáo T đang có 01 tiền sự bị xử phạt về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy chưa được xóa nay lại vi phạm pháp luật về tội ma túy, như vậy thể hiện bị cáo là người coi thường pháp luật. Do vậy, cần xử phạt bị cáo T mức án thật nghiêm mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích sau này.

[3]. Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh, Cơ quan điều tra xác định các bị cáo Q1, T đều sống phụ thuộc gia đình, ngoài đồ dùng sinh hoạt cá nhân hàng ngày và tài sản bị thu giữ, các bị cáo không có tài sản gì khác có giá trị. Đối với các tài sản cơ quan công an thu giữ là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu xanh đã cũ số Imei 1: 357213102136171, Imei2: 357213102346184 cùng với số tiền 40.000 đồng, của bị cáo Q1 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen đã cũ, số Imei: 355634048590399, của bị cáo T. Quá trình điều tra đã xác định đối với điện thoại thì các bị cáo đều sử dụng điện thoại với mục đích để liên lạc hàng ngày và số tiền 40.000 đồng do Q1 lao động mà có, không liên quan đến việc phạm tội. Do vậy, cần áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự để sung quỹ nhà nước là phù hợp.

[4]. Về vật chứng:

- Số tiền 300.000 đồng thu giữ của bị cáo T là tiền do T bán ma túy cho Q1 mà có, nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước là phù hợp;

- Cần tịch thu, tiêu hủy: 01 sim số 0987.062.949 lắp trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu xanh đã cũ của bị cáo Q1 và 01 sim số: 0397.505.898 lắp trong điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen đã cũ, của bị cáo T vì không còn giá trị sử dụng là phù hợp;

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 bì niêm phong số 148 bên trong có chứa 0,147 gam ma túy Heroine còn lại sau giám định; 01 bì niêm phong số 149 bên trong có chứa 0,153 gam ma túy Heroine còn lại sau giám định và 01 mảnh giấy bạc bị cháy xém.

[5] Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông tên B là người mà T khai đã bán ma túy cho T, ngoài lời khai của Tưởng, không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để làm rõ; Còn đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Q1, Tưởng, Cơ quan CSĐT Công an thành phố V đã chuyển Công an thành phố V xử phạt vi phạm hành chính với hình thức “Cảnh cáo”, xét thấy là phù hợp.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

[7] Xét đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh và hình phạt cũng như các vấn đề khác đối với các bị cáo là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào:

- Khoản 1, 5 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; đối với bị cáo Nguyễn Huy T;

- Điểm c khoản 1, 5 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; đối vối bị cáo Ngô Bá Q;

- Điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, b, c khoản 2 Điều 106, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

* Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huy T phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy"; bị cáo Ngô Bá Q phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Về hình phạt chính:

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy T 33 (Ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 20/01/2024.

- Xử phạt bị cáo Ngô Bá Q 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 18/01/2024.

* Về hình phạt bổ sung: Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu xanh đã cũ, số Imei 1: 357213102136171, Imei2: 357213102346184 cùng với số tiền 40.000 đồng, thu giữ của bị cáo Q và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen đã cũ, số Imei: 355634048590399 thu giữ của bị cáo T.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/4/2024, giữa Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ và Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ);

(Số tiền 40.000 đồng hiện đang tạm giữ tại tài khoản tạm giữ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V mở tại Kho bạc nhà nước tỉnh Phú Thọ; Theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 29/01/2024, của Kho bạc nhà nước tỉnh P).

* Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 300.000 đồng thu giữ của bị cáo T là tiền do bị cáo T bán ma túy cho bị cáo Q mà có.

(Số tiền 300.000 đồng hiện đang tạm giữ tại tài khoản tạm giữ của Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố V mở tại Kho bạc nhà nước tỉnh Phú Thọ; Theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 29/01/2024, của Kho bạc nhà nước tỉnh P).

- Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong số 148/KL-KTHS bên trong có chứa 0,147 gam ma túy Heroine còn lại sau giám định; 01 bì niêm phong số 149/KL-KTHS bên trong có chứa 0,153 gam ma túy Heroine còn lại sau giám định của Phòng K- Công an tỉnh P hoàn trả; 01 mảnh giấy bạc bị cháy xém; 01 sim số 0987.062.949 lắp trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu xanh đã cũ, của bị cáo Q và 01 sim số: 0397.505.898 lắp trong điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen đã cũ, của bị cáo T.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/4/2024, giữa Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ và Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ).

2. Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Huy TNgô Bá Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng, (Hai trăm nghìn đồng), tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND TP.Việt Trì;
  • - Trại TG Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh PT;
  • - Công an TP. Việt Trì;
  • - Chi cục THADS TP. Việt Trì;
  • - Hồ sơ THA HS;
  • - UBND nơi các bị cáo cư trú;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu HS, VA.

T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Anh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 57/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger