TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU Bản án số: 57/2024/HS-PT Ngày 16-5-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trung Dũng
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Hiếu
Ông Trần Minh Bắc
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Trung Tín – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nghiêm Thị Lan Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 33/2024/HSPT ngày 11-3-2024 đối với bị cáo Nguyễn Sỹ P do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HSST ngày 31-01-2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Sỹ P, sinh năm 1978 tại Tây Ninh; HKTT: khu phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; Chỗ ở: khu phố P, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Văn S (đã chết); Con bà Đoàn Thị P1; vợ: Âu Diễm P2, sinh năm 1983 và có 01 con sinh năm 2022.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt từ ngày 01/8/2023 (có mặt).
Ngoài ra trong vụ án còn có bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mâu thuẫn với Nguyễn Thị K (sinh năm: 1992; Nơi cư trú: xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai) – là người làm chung trong Công ty Trách nhiệm hữu hạn S1, Khu công nghiệp B-Tiến Hùng thuộc phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và biết được K gọi người tới đánh mình nên vào trưa ngày 07/4/2023 Âu Diễm P3 (Sinh năm: 1983; Nơi cư trú: xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau) đã gọi điện cho chồng là Nguyễn Sỹ P, kể với P về mâu thuẫn của hai người và nói P chiều đến đón P3 ở Công ty. Sau khi nghe P3 kể việc mâu thuẫn với K thì P gặp T (chưa rõ nhân thân, lai lịch) kể cho T nghe về việc P3 bị đe dọa đánh và rủ T đi giúp P đánh lại nhóm mâu thuẫn với P3. T đồng ý và rủ thêm M (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đi giúp P. Mừng cũng đồng ý và rủ thêm một người thanh niên (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đi cùng. Khi cả nhóm gặp nhau, M cầm một con dao, lưỡi dao màu trắng, cán dao màu nâu dài khoảng 50cm, người thanh niên đi cùng M cầm theo một thanh sắt dài khoảng 30cm; T cầm theo một cây dao rựa, P đi vào trong nhà lấy một con dao, lưỡi dao bằng sắt màu đen, cán dao bằng gỗ dài khoảng 40cm để trong cốp xe máy rồi 4 người cùng nhau đi đến cổng Công ty S1.
Về phía Nguyễn Thị K: sau khi mâu thuẫn với P3 thì K đã gọi điện cho chồng là Trương Nhật T1 (sinh năm: 2000; Nơi cư trú: ấp B, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai) đến công ty đón K. T1 đồng ý và rủ thêm Nguyễn Phạm Minh T2 (Sinh năm: 2000; Nơi cư trú: phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận), Nguyễn Hoàng N sinh năm: 2000; Nơi cư trú: xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau) cũng mang theo hung khí, đi đến Công ty.
Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, hai nhóm gặp nhau. Lúc này, P nhìn thấy K cùng với T1 (đang cầm theo cây gậy ba khúc đứng ở bên cạnh K) nên P và M đi đến nói chuyện với vợ chồng K. Khi thấy nhóm P có mang theo hung khí thì T2 đi từ phía sau cầm 01 con dao dài khoảng 10cm đi tới đâm P nhưng không trúng. P liền chạy về chiếc xe máy của P, mở cốp xe lấy con dao đã để trong cốp xe trước đó và cùng với M, T đuổi theo nhóm T1. Lúc này T1 và T2 thấy nhóm P dùng hung khí đuổi chém nên vứt dao và gậy ba khúc bỏ chạy. Nhóm P nhìn thấy anh Nguyễn Hoàng N (cùng nhóm với T1) nên đã lao vào dùng hung khí chém vào người anh N gây thương tích. Khi thấy anh N bị thương thì cả nhóm không chém nữa mà bỏ về, anh N được mọi người đưa đi cấp cứu.
Tại phiên tòa bị cáo P và bị hại Nhẫn đều khai trước cổng công ty lúc đó rất đông người, khoảng 30-40 người. Số người đang đứng ngoài cổng chứng kiến khoảng mười mấy người (bao gồm cả nhóm của bị cáo và nhóm của T1), người đang đứng trong cổng công ty chứng kiến khoảng mười mấy người, vị trí mà nhóm P và nhóm của T1 đứng chếch về phía bên trái của cổng công ty và tại cổng công ty có Camera.
Quá trình điều tra, Nguyễn Sỹ P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 244/TgT ngày 29/6/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B, kết luận:
1.Các kết quả chính:
- Kết quả khám giám định:
- + 01 sẹo lớn; 01 sẹo trung bình; 01 sẹo nhỏ.
- + Bàn tay trái: vận động ngón II, III, IV, V còn hạn chế nhiều.
Cẳng chân phải: được cố định bất động ngoài, không ngắn chi, không cứng khớp, mạch mu chân rõ, đầu chi hồng.
- Kết quả cận lâm sàng:
- + X quang bàn tay trái: Gãy đốt 1 ngón II, III, IV, V bàn tay trái.
- + X quang cẳng chân phải: Ô gãy nát 1/3 trên 2 xương cẳng chân phải/ khung bất động ngoài.
2. Kết luận:
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Hoàng N tại thời điểm giám định là: 29% (hai mươi chín phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Vật gây thương tích, chiều hướng tác động, lực tác động:
- + Thương tích 1: Phù hợp với tổn thương cơ bản là “Vết chém hay băm bổ”; được gây ra do sự tác động của vật có diện rộng hoặc có trọng lượng lớn tác động với lực mạnh vào cơ thể như dao rựa, dao phay, búa, rìu; tác động vào vị trí thương tích theo chiều hướng từ sau ra trước.
- + Thương tích 2: Được gây ra do sự tác động tương hỗ của vật cứng có cạnh sắc, tác động với lực rất mạnh vào vị trí thương tích theo chiều hướng từ phải sang trái.
- + Thương tích 3: Phù hợp với tổn thương cơ bản là “Vết chém hay băm bổ”; được gây ra do sự tác động của vật có diện rộng hoặc có trọng lượng lớn tác động với lực mạnh vào cơ thể như dao rựa, dao phay, búa, rìu; tác động vào vị trí thương tích theo chiều hướng từ trước ra sau.
- Về vật chứng trong vụ án: Đối với 01 con dao bằng kim loại có chiều dài 44cm, có cán dao bằng gỗ có chiều dài 15,5cm, phần lưỡi dao làm bằng kim loại dài 28,5cm, có bản dao rộng nhất 6,8cm. Hiện vật chứng nêu trên đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ bảo quản, chờ xử lý.
- Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ việc xảy ra, gia đình bị cáo đã bồi thường cho ông Nguyễn Hoàng N 40.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị hại N yêu cầu bị cáo bồi thường thêm 40.000.000. Bị cáo đồng ý bồi thường.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HSST ngày 31-01-2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Sỹ P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01 tháng 8 năm 2023.
Ngoài ra bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 01/02/2024, bị cáo Nguyễn Sỹ P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm;
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung án sơ thẩm và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát biểu quan điểm về vụ án: Bản án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo Nguyễn Sỹ P là có căn cứ và đúng pháp luật. Hành vi của Nguyễn Phạm Minh T2, Nguyễn Hoàng N, Trương Nhật T1 pham gia đánh nhau tại khu vực cổng công ty vào giờ tan ca đang tập trung đông người, có dấu hiệu phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Do vậy, có căn cứ cho rằng cấp sơ thẩm có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm, đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Sỹ P gửi trong thời hạn luật định nên hợp lệ, được chấp nhận xem xét theo trình tự thủ tục phúc thẩm.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện:
Do có mâu thuẫn với Nguyễn Thị K – là người làm chung trong Công ty Trách nhiệm hữu hạn S1, Khu công nghiệp B-Tiến Hùng thuộc phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và biết được K gọi người tới đánh mình nên vào trưa ngày 07/4/2023 Âu Diễm P3 đã gọi điện cho chồng là Nguyễn Sỹ P, kể với P về mâu thuẫn của hai người và nói P chiều đến đón P3 ở Công ty. Sau khi nghe P3 kể việc mâu thuẫn, P kể cho T nghe và rủ T đi giúp P đánh nhau. T đồng ý và rủ thêm M đi giúp P. Khi đi, cả nhóm mang theo hung khí là dao và rựa rồi cùng nhau đi đến cổng Công ty S1.
Về phía Nguyễn Thị K đã gọi điện cho chồng là Trương Nhật T1 đến công ty đón K. T1 đồng ý và rủ thêm Nguyễn Phạm Minh T2, Nguyễn Hoàng N cùng mang theo hung khí, đi đến Công ty.
Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, hai nhóm gặp nhau. Lúc này, P nhìn thấy K cùng với T1 (đang cầm theo cây gậy ba khúc đứng ở bên cạnh K) nên P và M đi đến nói chuyện với vợ chồng K. Khi thấy nhóm P có mang theo hung khí thì T2 đi từ phía sau cầm 01 con dao dài khoảng 10cm đi tới đâm P nhưng không trúng. P liền chạy về chiếc xe máy của P, mở cốp xe lấy con dao đã để trong cốp xe trước đó và cùng với M, T đuổi theo nhóm T1. Lúc này T1 và T2 thấy nhóm P dùng hung khí đuổi chém nên vứt dao và gậy ba khúc bỏ chạy. Nhóm P nhìn thấy anh Nguyễn Hoàng N (cùng nhóm với T1) nên đã lao vào dùng hung khí chém vào người anh N gây thương tích. Khi thấy anh N bị thương thì cả nhóm không chém nữa mà bỏ về, anh N được mọi người đưa đi cấp cứu. Hậu quả: anh N bị thương tích 29%.
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử Nguyễn Sỹ P phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
- Đối với Nguyễn Phạm Minh T2, Nguyễn Hoàng N, Trương Nhật T1, hồ sơ vụ án thể hiện những người này có chuẩn bị hung khí là cây gậy 3 khúc, dao tự chế tham gia đánh nhau trước khu vực cổng Công ty TNHH S1, KCN B-Tiến Hùng vào giờ tan làm. Theo lời khai bị cáo P và bị hại N thể hiện trước cổng công ty lúc đó rất đông người, khoảng 30-40 người, vị trí mà nhóm P và nhóm của T1 đứng chếch về phía bên trái của cổng công ty, thời gian đánh nhau khoảng từ 13 đến 15 phút. Hành vi dùng hung khí rượt đuổi đánh nhau tại cổng công ty giờ tan ca, trong khu công nghiệp gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự trong khu công nghiệp có dấu hiệu của tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Cấp sơ thẩm không truy tố, xét xử hành vi của T2, N1, T1 là có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm. Do vậy, cần thiết hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại theo quy định.
Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ đã trả hồ sơ điều tra bổ sung nhưng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ vẫn giữ nguyên quan điểm Nguyễn Phạm Minh T2, Nguyễn Hoàng N, Trương Nhật T1 không phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Do giới hạn của việc xét xử nên Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ chỉ xét xử bị cáo Nguyễn Sỹ P và kiến nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu hủy bản án sơ thẩm là có căn cứ. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không có lỗi.
[3] Về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo:
Do hủy án sơ thẩm nên không xem xét kháng cáo của bị cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355, điểm a khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HSST ngày 31-01-2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; giao hồ so cho Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ để điều tra lại theo thủ tục chung.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Nguyễn Sỹ P không phải nộp án phí.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trung Dũng |
Bản án số 57/2024/HS-PT ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về hình sự
- Số bản án: 57/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Sỹ P 318
