Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 57/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16-4-2024

V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân.

1. Ông Nguyễn Văn Hoàn;

2. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thuý An – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 437/2023/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2023, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 40/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Vũ Quang C, sinh năm 1984; HKTT: Xóm Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Địa chỉ tạm trú: Tổ D, Khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1983; HKTT: Xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Địa chỉ: Tổ H, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo Đơn khởi kiện nộp ngày 15/11/2023, quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn ông Vũ Quang C trình bày:

Ông C và bà L chung sống với nhau từ năm 2011 hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 13/04/2011 theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 19, quyển số 01/2011 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.

Trong quá trình chung sống thời gian đầu thì vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc, yêu thương nhau. Tuy nhiên, đến hiện nay vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, do vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau. Vợ chồng sống không có tình cảm, không còn hạnh phúc. Nay, ông C thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, nên làm đơn xin ly hôn với bà Nguyễn Thị L.

Quá trình chung sống ông C và bà L có 02 người con chung tên Vũ Khánh L1, sinh ngày 25/5/2012 và Vũ Khánh N, sinh ngày 15/3/2019. Sau khi ly hôn, ông C nhận trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung, không yêu cầu bà L phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Ông C không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung.

Ngoài ra, ông C không có yêu cầu khác, không cung cấp chứng cứ gì thêm.

* Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị L: Quá trình giải quyết vụ án bà L có Bản tự khai ngày 24/01/2024, trình bày: Bà L không đồng ý ly hôn vì cần phải giữ gìn ngôi nhà chung cho hai con, để hai con phát triển và lớn lên trong gia đình có đủ bố và mẹ.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ để yêu cầu bà Nguyễn Thị L, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 08/3/2024 nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do; nguyên đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng yêu cầu bị đơn tham gia phiên tòa vào các ngày 28/3/2024 và ngày 16/4/2024 nhưng vắng mặt không có lý do, không cung cấp tài liệu chứng cứ cho Tòa án. Quá trình xác minh, bị đơn bà L đang sinh sống tại địa chỉ: Tổ H, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

2

* Tại Bản tự khai ngày 18/01/2024 cháu Vũ Khánh L1 khai như sau: Hiện nay Tòa án đang giải quyết ly hôn giữa bố mẹ con, trong trường hợp bố mẹ không sống cùng nhau thì con muốn được sống cùng bố là Vũ Quang C.

* Tại biên bản xác minh nguyên nhân mâu thuẫn giữa ông C và bà L do Tòa án tiến hành ngày 15/01/2024, chính quyền địa phương cung cấp thông tin như sau:

Quá trình ông Vũ Quang C và bà Nguyễn Thị L sinh sống tại địa phương chính quyền không nhận được đơn thư hay trình báo gì về việc ông C và bà L có xảy ra mâu thuẫn trong gia đình. Nên chính quyền địa phương không biết được mâu thuẫn giữa vợ chồng ông C và bà L là gì cũng như công việc, thu nhập của họ nên không cung cấp thông tin được cho Tòa án. Đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương có ý kiến:

3

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng, đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định. Bị đơn không chấp hành pháp luật tố tụng. Không kiến nghị khắc phục, bổ sung về thủ tục tố tụng. Quan hệ pháp luật là: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa nhận thấy mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa ông C và bà L là trầm trọng, không hàn gắn đoàn tụ được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ Quang C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng:
    1. Nguyên đơn ông C khởi kiện tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1983 có địa chỉ cư trú tại Tổ H, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương nên căn cứ theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương; quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.
    2. Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Vũ Quang C vắng mặt có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn bà Nguyễn Thị L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa vào các ngày 28/3/2024 và ngày 16/4/2024 nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Về nội dung:
    1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Vũ Quang C và bà Nguyễn Thị L chung sống với nhau hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 13/04/2011 theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 19, quyển số 01/2011 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Như vậy, hôn nhân giữa ông C và bà L là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận.
    2. Ông C trình bày trong quá trình chung sống thời gian đầu thì vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc, yêu thương nhau. Tuy nhiên, đến hiện nay vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, do vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau. Vợ chồng sống không có tình cảm, không còn hạnh phúc. Nay, ông C thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, nên làm đơn xin ly hôn với bà Nguyễn Thị L.
    3. Bị đơn bà L không đồng ý ly hôn vì muốn giữ gìn ngôi nhà chung cho hai con, để hai con phát triển và lớn lên trong gia đình có đủ bố và mẹ.
    4. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, đã tiến hành triệu tập nguyên đơn, bị đơn đến làm việc, hòa giải nhằm mục đích hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng nguyên đơn kiên quyết xin ly hôn và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; bị đơn không có mặt theo triệu tập của Tòa án.
    5. Xét thấy mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt được mục đích, vợ chồng phải quan tâm, quý trọng, thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ và tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Từ việc nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; bị đơn không tham gia hòa giải đoàn tụ để hàn gắn quan hệ hôn nhân đã thể hiện ông C và bà L không có thiện chí hòa giải đoàn tụ với nhau; hai bên cũng không đưa ra được giải pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng để xây dựng gia đình hạnh phúc. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ cơ sở để xác định tình trạng hôn nhân của ông C, bà L đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc ông C yêu cầu ly hôn với bà L là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
    6. Về con chung: Quá trình chung sống ông C và bà L có 02 người con chung tên Vũ Khánh L1, sinh ngày 25/5/2012 và Vũ Khánh N, sinh ngày 15/3/2019. Sau khi ly hôn, ông C nhận trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung, không yêu cầu bà L phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
    7. Việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét về mọi mặt của con chưa thành niên. Trong suốt quá trình tố tụng mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản có nêu rõ yêu cầu của nguyên đơn về vấn đề này cho bị đơn nhưng bị đơn không có ý kiến gì; mặt khác yêu cầu của nguyên đơn phù hợp với nguyện vọng của cháu Vũ Khánh L1 tại Bản tự khai ngày 18/01/2024. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy việc giao con chung cho ông C trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng là đảm bảo quyền lợi mọi mặt của các con, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Nguyên đơn ông C không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện của đương sự nên ghi nhận.
    8. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung vụ án, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật.
  4. Về án phí: Nguyên đơn ông C phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

4

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ vào các Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;
  • - Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

5

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Quang C đối với bà Nguyễn Thị L về việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con.
    1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Vũ Quang C được ly hôn với bà Nguyễn Thị L (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 19, quyển số 01/2011 đăng ký kết hôn ngày 13/04/2011 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định).
    2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị L giao con chung tên Vũ Khánh L1, sinh ngày 25/5/2012 và Vũ Khánh N, sinh ngày 15/3/2019 cho ông Vũ Quang C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Vũ Quang C về việc không yêu cầu bà Nguyễn Thị L cấp dưỡng nuôi con chung.
    3. Ông Vũ Quang C và bà Nguyễn Thị L đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.
    4. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không tranh chấp, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
  2. Về án phí: Ông Vũ Quang C phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm mà ông C đã nộp theo biên lai thu số 0001271 ngày 27 tháng 11 năm 2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
  3. Về quyền kháng cáo:

    Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Dĩ An;
  • - CCTHADS thành phố Dĩ An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Minh Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/HNGĐ-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 57/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Quang C-Nguyễn Thị L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger