|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 57/2024/HS-ST Ngày 14 - 9 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Chi;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hữu Bình;
Ông Nguyễn Duy Viên.
- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Kim Liên, Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Dung, Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến, tại điểm cầu trung tâm là Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng và điểm cầu thành phần là Nhà tạm giữ Công an huyện T, vụ án hình sự thụ lý số 55/2024/TLST-HS, ngày 21 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Văn H, sinh ngày 04 tháng 7 năm 1992 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Vũ Văn H1 và bà Bùi Thị D; chưa có vợ con; tiền sự, tiền án: Không có. Bị tạm giữ từ ngày 01/6/2024 đến ngày 07/6/2024 chuyển sang tạm giam đến nay, có mặt.
Người làm chứng: Bà Bùi Thị D, sinh năm 1972, vắng mặt;
Người tham gia tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Bà Trần Thị T, Công chức Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, có mặt.
oà, V, Hải Phòng
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Văn H nghiện ma tuý loại Heroine từ năm 2012. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 01/6/2024, H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 16P1-9359 đi đến khu vực đê sông M thuộc thôn M, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng mục đích mua ma tuý về sử dụng. Tại đây, H gặp người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ hỏi mua 200.000 đồng ma tuý, loại Heroine thì được người này bán cho 01 túi nilon bên trong có 02 gói giấy chứa ma tuý, loại Heroine. Mua được ma tuý, H cầm ở lòng bàn tay phải rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà. Khi H đi được khoảng 200m thì bị Tổ công tác Công an huyện T kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại lòng bàn tay phải của H 01 túi nilon bên trong có 02 gói giấy màu trắng kích thước (02 x 0,8) cm chứa chất bột màu trắng và 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA NOVOU LX biển kiểm soát 16P1-9359.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ Văn H, nhưng Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ được tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án.
Kết luận giám định số 656/KL-KTHS ngày 04/6/2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: “Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,21gam, loại Heroine (Heroin)".
Kết quả xét nghiệm của Cơ sở cai nghiện ma túy số 02 Hải Phòng kết luận Vũ Văn H dương tính với ma túy, loại Heroine.
Phiếu trả lời xác minh dữ liệu đăng ký xe của Công an huyện T và Kết luận giám định số 2268/KL-KTHS ngày 17/6/2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: “Xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu YAMAHA, mang biển kiểm soát 16P1-9359, chủ xe ông Phạm Văn N, địa chỉ: xóm A, Hòa Bình, T, Hải Phòng; có số khung, số máy là số nguyên thủy của nhà sản xuất đóng, không bị tẩy xóa hay sửa chữa các ký tự”.
Tại Cáo trạng số 59/CT-VKS ngày 21/8/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng đã truy tố Vũ Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (BLHS).
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Vũ Văn H đều khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên và khai số ma túy Cơ quan Công an thu giữ là của H cất giấu, để sử dụng, ngoài ra không có mục đích nào khác. Số tiền dùng để mua ma tuý là do H lao động mà có. H không trao đổi, bàn bạc với ai, không có ai góp tiền chung với H để mua ma túy. Xe mô tô biển kiểm soát 16P1-9359, H mượn của bà Bùi Thị D, là mẹ đẻ H để đi làm, bà D không biết việc H sử dụng chiếc xe trên đi mua ma tuý.
Tại cơ quan điều tra, bà Bùi Thị D khai: Xe mô tô biển kiểm soát 16P1-9359 là của bà D mua từ tháng 4/2024 của ông Phạm Văn N, sinh năm 1958 trú tại xóm A, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng với giá 4.000.000 đồng, nhưng không có giấy tờ mua bán và chưa làm thủ tục sang tên. H thường xuyên mượn chiếc xe mô tô để đi làm thuê, bà D không biết việc H sử dụng xe mô tô đi mua ma tuý. Ngày 15/6/2024, bà D đã giao nộp cho cơ quan điều tra 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 16P1-9359.
Ông Phạm Văn N khai: Xe mô tô biển kiểm soát 16P1-9359 ông N mua năm 2009, đăng ký xe mang tên ông. Tháng 4/2024, ông N không có nhu cầu sử dụng xe nên đã bán cho bà Bùi Thị D với giá 4.000.000 đồng nhưng không viết giấy tờ mua bán.
Kiểm sát viên khẳng định: Cáo trạng số 59/CT-VKS, ngày 21/8/2024 truy tố Vũ Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội. Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Kiểm sát viên đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Tuyên bố Vũ Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và xử phạt từ 15 đến 21 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là lao động tự do, thu nhập thấp, không có tài sản nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 BLHS và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu hủy 01 phong bì niêm phong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định (bên trong có 0,11 gam ma túy, loại Heroine cùng toàn bộ vỏ bao gói của mẫu vật).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tổ tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Người làm chứng là bà Bùi Thị D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không rõ lý do; mặt khác bà D đã có lời khai tại cơ quan điều tra. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt người làm chứng.
[3] Về tội danh và hình phạt: Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo Vũ Văn H là hoàn toàn rõ ràng, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu được, phù hợp với kết luận giám định, kết quả xét nghiệm ma túy đối với Vũ Văn H. Do đó, đã đủ cơ sở kết luận: Hành vi ngày 01/6//2024 của Vũ Văn H mua của một người đàn ông không quen biết ở khu vực đê sông M, thuộc địa phận thôn M, xã T, huyện T 0,21 gam ma túy, loại Heroine rồi cất giấu trái phép để sử dụng là phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
[4] Bị cáo Vũ Văn H có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội nghiêm trọng do cố ý, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, là nguyên nhân làm gia tăng số người nghiện trên địa bàn - nguồn gốc gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời hạn nhất định mới đảm bảo giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung.
[5] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội; không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
[6] Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử cho rằng, bị cáo phạm tội lần đầu, nên xử phạt bị cáo hình phạt ở mức khởi điểm mà Kiểm sát đề nghị là phù hợp.
[7] Trong vụ án này, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người đàn ông đã bán ma túy cho H, nên đã tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp.
[8] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, xét thấy H phạm tội lần đầu, bản thân là lao động tự do, thu nhập thấp, không có tài sản gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
[9] Về vật chứng: Số ma túy (Heroine) cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo đã được lấy ra một phần để giám định, còn lại 0,11 gam được niêm phong trong 01 phong bì cùng toàn bộ vỏ bao gói của mẫu vật do cơ quan giám định hoàn lại, thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành. Do đó, căn cứ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ số vật chứng nêu trên. Đối với xe mô tô biển kiểm soát 16P1 – 9359 và Giấy đăng ký xe mô tô là tài sản hợp pháp của bà D, H thường xuyên mượn xe của bà D để sử dụng, bà D không biết H sử dụng xe mô tô này để đi mua ma túy nên cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cùng giấy tờ xe cho bà D là đúng quy định pháp luật.
[10] Về án phí: Căn cứ quy định tại Điều 6 và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án, buộc bị cáo Vũ Văn H phải chịu 200.000 đồng, án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ Điều 6 và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án,
- Tuyên bố bị cáo Vũ Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Văn H 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 01/6/2024.
- Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định, bên trong có 0,11 gam ma túy, loại Heroine cùng toàn bộ vỏ bao gói của mẫu vật. Toàn bộ vật chứng đã được Công an huyện T bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng.
- Về án phí: Bị cáo Vũ Văn H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng, án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Vũ Văn H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Chi |
Bản án số 57/2024/HS-ST ngày 14/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 57/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Văn H phạm tội tàng trữ trái pháp chất ma tuý
