Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ THUẬN THÀNH

TỈNH BẮC NINH

Bản án số: 57/2024/HSST

Ngày 12/7/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH - TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Tuấn Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Bá Thành; Ông Trần Đăng Hùng

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Lan Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 54/2024/HSST ngày 23 tháng 5 năm 2024. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo.

  1. Trần Thế H, sinh năm 1981; Giới tính: Nam. Đăng ký thường trú: Khu B, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Chỗ ở: số F đường L, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Quốc tịch:Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12. Con ông: Trần Thế T (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị V, sinh năm 1948; Có vợ là: Dương Hương N, sinh năm 1981 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2021 Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2023 đến ngày 01/03/2024 được thay thế bằng biện pháp Bảo Lĩnh, hiện tại ngoại, Có mặt tại phiên toà.

  2. Nguyễn Văn H1, sinh năm 1990; Giới tính: Nam. Đăng ký thường trú: Khu B, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Chỗ ở: Số A T, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 12/12. Con ông: Nguyễn Văn C, sinh năm 1963; Con bà:Trần Thị L, sinh năm 1966; Có vợ là: Nguyễn Thị H2, sinh năm 1999, và 01 con sinh năm 2023. Tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2023 đến ngày 01/03/2024 được thay thế bằng biện pháp Bảo Lĩnh, hiện tại ngoại, Có mặt tại phiên toà.

  3. Phạm Hồng T1, sinh năm 1980; Giới tính: Nam. Nơi cư trú: số B đường N, khu D, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do;Trình độ văn hóa: 12/12. Con ông: Phạm Văn N1 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị L1, sinh năm 1946. Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2023 đến ngày 01/03/2024 được thay thế bằng biện pháp Bảo Lĩnh, hiện tại ngoại, Có mặt tại phiên toà.

1

*,Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Văn L2, sinh năm 1991, (có vợ là: Hoàng Tuyết N) trú tại xóm C, xã M, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Điện thoại: 0979.182.xxx (Vắng mặt)
  2. Anh Nguyễn Quý D, sinh năm 1981 (có vợ là: Lê Thị Hồng N2), trú tại: khu phố H, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Điện thoại: 0984.912.xxx (Vắng mặt)
  3. Anh Dương Tuấn A, sinh năm 1982. HKTT: khu C, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Chỗ ở: Căn hộ A Chung cư R phường V, thành phố B. Điện thoại: 0979.438.xxx (Vắng mặt)
  4. Anh Nguyễn Hồng T2, sinh năm 1976 (có vợ là: Vũ Thị Thu T3) trú tại: Khu D, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Điện thoại: 0943.741.xxx, (Vắng mặt)
  5. Anh Trần Văn Đ, sinh năm 1985 (có vợ là: Nguyễn Thị N3), trú tại: khu phố B, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Điện thoại: 0914.984.xxx, (Vắng mặt)
  6. Anh Nguyễn Thành T4, sinh năm 1989, trú tại: Số nhà C, đường N, khu phố H, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Điện thoại: 0988.145.xxx, (Vắng mặt).
  7. Anh Trần Văn T5, sinh năm 1982 (có vợ là: Bùi Thị N4), trú tại: Khu phố C, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Điện thoại: 0395.724.xxx, (Vắng mặt).
  8. Anh Tống Văn Q, sinh năm 1991 (có vợ là Vy Thị M), trú tại: khu phố T, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Điện thoại: 0968.209.xxx, (Vắng mặt).
  9. Anh Vũ Hồng T6, sinh năm 1981 ( con ông: Vũ Vă T7, con bà: Nguyễn Thị T8), trú tại: khu phố P, phường V, thành B, tỉnh Bắc Ninh. Điện thoại: 0976.515.xxx, (Vắng mặt).
  10. Chị Nguyễn Thu H3, sinh năm 1972, (có chồng là Trần Ngọc H4), trú tại: Số nhà A, ngõ B đường H, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Điện thoại: 0982.129.xxx, (Vắng mặt).
  11. Anh Nguyễn Xuân T9, sinh năm 1982 (con ông: Nguyễn Xuân B, con bà: Trần Thị H5), trú tại: xóm E, khu phố X, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Điện thoại: 0983.565.xxx, (Vắng mặt).
  12. Anh Nguyễn Xuân T10, sinh năm 1981 (có vợ là: Nguyễn Thị Diệu T11), trú tại: khu B, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Điện thoại: 0964.291.xxx, (Vắng mặt).
  13. Anh Nguyễn Huy H6, sinh năm 1985, trú tại: Số nhà A đường N, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.ĐT: 0961.459.xxx (Vắng mặt).
  14. Anh Dương Giáp C1, sinh năm 1975, trú tại: Số B đường N, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Điện thoại: 0393.017.xxx, (Vắng mặt).
  15. Anh Nguyễn Mạnh H7, sinh năm 1986 ( có vợ là: Nguyễn Thị T12), trú tại: xóm B khu phố H, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Điện thoại: 0963.306.xxx, (Vắng mặt).
  16. Anh Nguyễn Xuân H8, sinh năm 1979 ( có vợ là: Tạ Thị P), trú tại: xóm D khu phố H, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Điện thoại: 0961.455.xxx, (Vắng mặt).

2

  1. Anh Vũ Đức T13, sinh năm 1988 ( con ông Vũ Văn C2, con bà: Nguyễn Thị T14), trú tại: khu phố P, phường V; thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Điện thoại: 0963.127.xxx, (Vắng mặt).
  2. Anh Tống Văn N5, sinh năm 1984 ( có vợ là: Tống Thị T15), trú tại: khu phố :, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Điện thoại: 0362.053.xxx, (Vắng mặt).
  3. Anh Nguyễn Đức N6, sinh năm 1995 ( có vợ là: Vũ Kim A1), trú tại: khu A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.Điện thoại: 0829.519.xxx, (Vắng mặt).
  4. Anh Huỳnh Đức H9, sinh năm 1991, trú tại: Số nhà C đường B, khu G, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Điện thoại: 03553663xxx, (Vắng mặt).
  5. Anh Nguyễn Văn L3, sinh năm 1983 ( con ông: Nguyễn Văn K, con bà: Nguyễn Thị S), trú tại: khu H, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Điện thoại: 0976.566.xxx, (Vắng mặt).
  6. Anh Uông Đình L4, sinh năm 1988, trú tại: Số nhà F đường B, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Điện thoại: 0972.895.xxx, (Có mặt).
  7. Anh Nguyễn Văn K1, sinh năm 1960 ( có vợ là Trần Thị B1 đã ly hôn), trú tại: khu phố K, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Điện thoại: 0981.088.xxx (Vắng mặt).
  8. Anh Đặng Văn C3, sinh năm 1980 (Có vợ là: Nguyễn Thị T16), trú tại: khu phố Đ, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Điện thoại: 0332.759.xxx, (Vắng mặt).
  9. Anh Trần Quang H10, sinh năm 1980 (Có vợ là: Nguyễn Thị Y), trú tại: khu phố A C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Điện thoại: 0945.394.xxx (Vắng mặt).
  10. Anh Nguyễn Hữu P1, sinh năm 1976. Đăng ký thường trú: Số H N, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, chỗ ở: Chung cư C, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Điện thoại: 0988.888.xxx (Vắng mặt).
  11. Anh Nguyễn Văn D1, sinh năm 1989 ( có vợ là: Nguyễn Thị T17), trú tại: khu phố T, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Điện thoại: 0944.252.xxx (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 18/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T, tỉnh Bắc Ninh tiếp nhận đơn trình báo của anh Nguyễn Văn L2 với nội dung tố giác Trần Thế H có hành vi “cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Cụ thể: Ngày 06/01/2023, anh L2 vay số tiền 50.000.000 đồng của H với lãi suất 4000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, thỏa thuận 10 ngày phải đóng lãi 01 lần với số tiền 2.000.000 đồng. Khi cho vay tiền, H chỉ đưa cho anh L2 48.000.000 đồng và đã trừ tiền lãi của 10 ngày đầu tiên là 2.000.000 đồng. Quá trình cho vay đến ngày 03/12/2023, anh L2 hoàn trả số tiền gốc là 50.000.000 đồng cho H và trả lãi cho H tổng số tiền lãi là 57.500.000 đồng.

Ngày 18/12/2023, H đã đến Công an thị xã T, tỉnh Bắc Ninh đầu thú và khai nhận hành vi “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” đối với anh L2. Ngoài ra H còn khai nhận các hành vi cho vay lãi nặng khác H thực hiện cùng Nguyễn Văn H1 và Phạm Hồng T1

3

Ngày 18/12/2023, Nguyễn Văn H1 và Phạm Hồng T1 đã đến Công an thị xã T đầu thú.

Ngày 18/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T tiến hành kiểm tra chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro gắn sim số 0915.206.155 của H xác định lưu số 0376.832.329 là “Em H1” và số 0977.989.572 là “Thanh Anu” và số 0948.907.832 là “T1 (Anu2)”. Tại phần ứng dụng của máy có ứng dụng “Googe Chrome” và “Safari” là 02 trình duyệt để H sử dụng truy cập và đăng nhập tài khoản tại trang web: www.1Cash.info để quản lý các hợp đồng liên quan đến hoạt động “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Phần ứng dụng zalo có tài khoản zalo tên “H1”. Ngoài ra còn có ứng dụng Smartbanking của ngân hàng T19 và V1 để đăng nhập tài khoản ngân hàng của H để giải ngân cho khách vay, nhận tiền đóng lãi, trả gốc của khách.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T, Trần Thế H, Nguyễn Văn H1 và Phạm Hồng T1 khai nhận:

Trần Thế H hoạt động “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” tại địa bàn tỉnh Bắc Ninh từ khoảng giữa năm 2018 đến nay. Ban đầu H có khoảng 100.000.000 đồng sau đó phát sinh lãi và tiếp tục sử dụng số tiền lãi để cho các khách hàng mới vay. H cho khách vay khoản tiền từ 5.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng với lãi suất từ 3.000 đồng đến 5.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày tương đương với lãi suất từ 109,5% đến 182,5%/ 01 năm. Để thuận lợi cho việc cho vay, thu hồi tiền vay và tiền lãi, khoảng đầu năm 2022, H mua phần mềm 1Cash (đường dẫn: www.1Cash.info) của một người không quen biết trên mạng Internet để quản lý, hoạt động cho vay lãi suất cao. H sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 pro, gắn sim số 0915.206.155 rồi sử dụng trình duyệt “Google Chrome” hoặc “Safari” trên điện thoại để đăng nhập vào tài khoản “Thehungbn2511”, mật khẩu "Hu251181".

Về việc sử dụng phần mềm “1Cash”: Khi có khách vay mới, H sẽ đăng nhập vào sau đó vào mục “Tín chấp” rồi ấn vào nút “Thêm mới” và nhập các thông tin như: Tên khách hàng (Đặt theo quy định: Họ tên + (viết tắt địa danh cấp xã) + (tên người cho vay), số điện thoại, địa chỉ, Tài sản thế chấp (Giấy đăng ký xe, thẻ CCCD, Giấy CMND...), tổng số tiền vay, lãi phí, kỳ lãi phí...). Sau đó, trên phần mềm sẽ tự tính toán các kỳ đóng lãi, số tiền đóng lãi của khách. Mỗi khi khách đóng lãi, H vào mục “Cảnh Báo Vay Lãi” tại trang chủ (biểu tượng $), tìm kiếm tên khách hàng rồi bấm vào nút “Đóng lãi” của khách hàng đó. Lúc này giao diện website hiện lên các lần đóng lãi trước đây (những ô bên phải đã được chọn) và các lần đóng lãi hiện tại, tiếp theo. Tùy vào số tiền khách đóng lãi (10, 20 ,30 ngày) mà H click vào 1, 2, 3 ô vuông bên phải thể hiện đóng lãi đến ngày nào.

Về thỏa thuận lương giữa H với H1 và T1: H và T1 thỏa thuận T1 được hưởng số tiền 1.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày đối với những khách mà T1 giới thiệu cho H. Đối với H1: Ban đầu H trả lương cho H1 từ khoảng 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng/01 tháng. Sau đó, tăng lên 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng/01 tháng tùy thuộc vào doanh số lãi thu được hàng tháng. Nếu khách do H1 giới thiệu không đóng đủ lãi, H1 sẽ bị nợ lương.

Về việc thực hiện cho vay, thu nợ lãi, nợ gốc:

4

H thỏa thuận với H1 và T1, khi khách liên hệ vay thì yêu cầu khách viết toàn bộ thông tin đăng ký vào giấy vay tiền rồi chuyển toàn bộ thông tin về khách vay cho H để H quán lý trên phần mềm “1Cash”. Đối với khách vay không thế chấp thường cho vay từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Đối với những khách vay tiền liên hệ với H1: H1 sẽ cùng T1 đi kiểm tra nhà của khách vay sau đó báo cáo lại với H để H duyệt khoản vay rồi H sẽ chuyển số tiền cho vay cho H1 để chuyển cho khách vay tiền. Đối với những khách vay tiền liên hệ với T1: T1 sẽ báo cáo lại với H để H duyệt khoản vay rồi H sẽ chuyển khoản tiền cho H1 sau đó H1 chuyển khoản lại cho T1 hoặc rút tiền mặt đưa cho T1 để T1 chuyển tiền cho khách vay tiền. Khi giải ngân cho khách vay thường sẽ cắt lãi trước 10, 20 hoặc 30 ngày. Hàng ngày, H kiểm tra trên phần mềm “1Cash” khi khách đến hạn đóng lãi, gốc thì H sẽ bảo H1, T1 gọi điện đôn đốc khách hàng trả nợ lãi, nợ gốc. Khi khách hàng trả tiền cho T1, H1 thì H1 sẽ tập hợp lại nhắn tin cho H qua zalo và chuyển tiền cho H, để H nhập số liệu vào phần mềm “1Cash”.

Đối với những khách hàng vay riêng của H thì H1 và T1 không biết, không có trách nhiệm thu tiền hay không được hưởng lợi gì.

Quá trình hoạt động cho vay, H sử dụng 02 tài khoản ngân hàng để chuyển khoản ngân hàng cho khách vay; nhận lãi, gốc; chuyển khoản cho H1, T1 để giải ngân cho khách vay; nhận tiền lãi, gốc từ H1, T1 chuyển khoản gồm: Tài khoản mở tại Ngân hàng T19 chi nhánh B2 số tài khoản 19023689566015 và tài khoản mở tại Ngân hàng V1, chi nhánh B2 số tài khoản 0351000925077 mang tên Trần Thế H. Còn H1 sử dụng tài khoản mở tại Ngân hàng T19 số 19033233703016 để giải ngân tiền cho khách vay; nhận tiền lãi của khách vay và chuyển khoản cho H số tiền lãi gốc mà đã thu của khách.

Ngày 18/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T tiến hành cho H đăng nhập vào tài khoản để kiểm tra và trích suất các dữ liệu tại phần mềm 1Cash (đường dẫn: www.1Cash.info) với tên đăng nhập “thehungbn2511”; mật khẩu “Hu251181”, kết quả đăng nhập thành công và tiến hành trích suất dữ liệu bằng hình thức chụp ảnh màn hình các hợp đồng cho vay trong phần mềm. Cơ quan điều tra đã trích suất được 27 hợp đồng cho vay tại phần mềm 1Cash của các khách hàng.

Quá trình điều tra xác định trong 27 giao dịch “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” có 04 giao dịch do H trực tiếp thực hiện, không liên quan đến T1 và H1, có 12 giao dịch do H và H1 cùng tham gia thực hiện, không liên quan đến T1, có 11 giao dịch do H, H1 và T1 cùng tham gia thực hiện, cụ thể như sau:

Thứ nhất, 04 khách hàng H trực tiếp thực hiện việc cho vay, lập hợp đồng vay, thu tiền của khách hàng, gồm có:

  1. Anh Nguyễn Văn L2: Từ ngày 06/01/2023 đến ngày 03/12/2023, H đã cho anh L2 vay số tiền 50.000.000 đồng, với lãi suất 4000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, khi cho vay không có thế chấp, đã trả tiền mặt, chuyển khoản tổng số tiền lãi là 57.500.000 đồng, mức tiền lãi được Nhà nước cho phép là 9.095.890 đồng, thu lợi bất chính số tiền 48.404.110 đồng. Đến nay, anh L2 đã trả đủ tiền gốc. T1 và H1 không liên quan đến việc cho vay tiền này.
  2. Anh Dương Tuấn A: Từ ngày 16/04/2023 đến ngày 18/12/2023, H đã cho anh Tuấn A vay số tiền 100.000.000 đồng, với lãi suất 5000 đồng/1.000.000 đồng/01

5

  1. ngày, khi cho vay không có thế chấp, đã trả tiền mặt, chuyển khoản tổng số tiền lãi là 115.000.000 đồng, mức tiền lãi được Nhà nước cho phép là 13.534.247 đồng, thu lợi bất chính số tiền 101.465.753 đồng. Đến nay, anh Tuấn A chưa trả cho H số tiền gốc đã vay. T1 và H1 không liên quan đến việc cho vay tiền này.
  2. Anh Nguyễn Hồng T2: Từ ngày 21/02/2023 đến ngày 18/12/2023, H đã cho anh T2 vay số tiền 50.000.000 đồng, với lãi suất 4000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, khi cho vay không có thế chấp, đã trả tiền mặt, chuyển khoản tổng số tiền lãi là 54.000.000 đồng, mức tiền lãi được Nhà nước cho phép là 8.246.575 đồng, thu lợi bất chính số tiền 45.753.425 đồng. Đến nay, anh T2 chưa trả số tiền gốc đã vay. T1 và H1 không liên quan đến việc cho vay tiền này.
  3. Anh Trần Văn Đ: Từ ngày 28/11/2023 đến ngày 18/12/2023, H đã cho anh Đ vay số tiền 20.000.000 đồng, với lãi suất 5000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, khi cho vay không có thế chấp, đã trả tiền mặt, chuyển khoản tổng số tiền lãi là 2.000.000 đồng, mức tiền lãi được Nhà nước cho phép là 230.137 đồng, thu lợi bất chính số tiền 1.769.863 đồng. Đến nay, anh Đ chưa trả số tiền gốc đã vay.

Thứ hai, 12 khách hàng H, H1 cùng nhau thực việc cho vay, lập hợp đồng vay, thu tiền của khách hàng, gồm có:

  1. Anh Trần Văn T5: Từ ngày 17/6/2023 đến ngày 18/12/2023, H đã chuyển tiền cho H1 để cho anh T5 vay số tiền 10.000.000 đồng, với lãi suất 5000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, khi cho vay không có thế chấp, đã trả tiền mặt, chuyển khoản tổng số tiền lãi là 9.000.000 đồng, mức tiền lãi được Nhà nước cho phép là 1.013.699 đồng, thu lợi bất chính số tiền 7.986.301 đồng. Đến nay, anh T5 chưa trả số tiền gốc đã vay.
  2. Anh Tống Văn Q: Từ ngày 02/8/2023 đến ngày 18/12/2023, H đã chuyển tiền cho H1 để cho anh Q vay số tiền 5.000.000 đồng, với lãi suất 5000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, khi cho vay không có thế chấp, đã trả tiền mặt, chuyển khoản tổng số tiền lãi là 3.750.000 đồng, mức tiền lãi được Nhà nước cho phép là 380.822 đồng, thu lợi bất chính số tiền 3.369.178 đồng. Đến nay, anh Q chưa trả số tiền gốc đã vay.
  3. Anh Vũ Hồng T6: Từ ngày 08/5/2023 đến ngày 18/12/2023, H đã chuyển tiền cho H1 để cho anh T6 vay số tiền 15.000.000 đồng, với lãi suất 5000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, khi cho vay không có thế chấp, đã trả tiền mặt, chuyển khoản tổng số tiền lãi là 16.500.000 đồng, mức tiền lãi được Nhà nước cho phép là 1.849.315 đồng, thu lợi bất chính số tiền 14.650.685 đồng. Đến nay, anh T6 chưa trả số tiền gốc đã vay.
  4. Anh Vũ Đức T13: Từ ngày 07/9/2023 đến ngày 18/12/2023, H đã chuyển tiền cho H1 để cho anh T13 vay số tiền 15.000.000 đồng, với lãi suất 5000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, khi cho vay không có thế chấp, đã trả tiền mặt, chuyển khoản tổng số tiền lãi là 6.750.000 đồng, mức tiền lãi được Nhà nước cho phép là 846.575 đồng, thu lợi bất chính số tiền 5.903.425 đồng. Đến nay, anh T13 chưa trả số tiền gốc đã vay.
  5. Anh Nguyễn Đức N6: Từ ngày 30/5/2023 đến ngày 18/12/2023, H đã chuyển tiền cho H1 để cho anh N6 vay số tiền 5.000.000 đồng, với lãi suất 5000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, khi cho vay không có thế chấp, đã trả tiền mặt,

6

  1. chuyển khoản tổng số tiền lãi là 3.500.000 đồng, mức tiền lãi được Nhà nước cho phép là 556.164 đồng, thu lợi bất chính số tiền 2.943.836 đồng. Đến nay, anh N6 chưa trả số tiền gốc đã vay.
  2. Anh Huỳnh Đức H9: Từ ngày 28/8/2022 đến ngày 18/12/2023, H đã chuyển tiền cho H1 để cho anh H9 vay số tiền 10.000.000 đồng, với lãi suất 5000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, khi cho vay không có thế chấp, đã trả tiền mặt, chuyển khoản tổng số tiền lãi là 22.000.000 đồng, mức tiền lãi được Nhà nước cho phép là 2.619.179 đồng, thu lợi bất chính số tiền 19.380.821 đồng. Đến nay, anh H9 chưa trả số tiền gốc đã vay.
  3. Anh Uông Đình L4: Từ ngày 21/3/2023 đến ngày 18/12/2023, H đã chuyển tiền cho H1 để cho anh L4 vay số tiền 15.000.000 đồng, với lãi suất 3000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, khi cho vay không có thế chấp, đã trả tiền mặt, chuyển khoản tổng số tiền lãi là 11.700.000 đồng, mức tiền lãi được Nhà nước cho phép là 2.243.836 đồng, thu lợi bất chính số tiền 9.456.164 đồng. Đến nay, anh L4 chưa trả số tiền gốc đã vay.
  4. Anh Nguyễn Văn K1: Từ ngày 23/3/2023 đến ngày 18/12/2023, H đã chuyển tiền cho H1 để cho anh K1 vay số tiền 10.000.000 đồng, với lãi suất 5000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, khi cho vay không có thế chấp, đã trả tiền mặt, chuyển khoản tổng số tiền lãi là 13.500.000 đồng, mức tiền lãi được Nhà nước cho phép là 1.484.932 đồng, thu lợi bất chính số tiền 12.015.068 đồng. Đến nay, anh K1 chưa trả số tiền gốc đã vay.
  5. Anh Nguyễn Văn D1: Từ ngày 28/8/2023 đến ngày 18/12/2023, H đã chuyển tiền cho H1 để cho anh D1 vay số tiền 15.000.000 đồng, với lãi suất 5000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, khi cho vay không có thế chấp, đã trả tiền mặt, chuyển khoản tổng số tiền lãi là 8.250.000 đồng, mức tiền lãi được Nhà nước cho phép là 928.767 đồng, thu lợi bất chính số tiền 7.321.233 đồng. Đến nay, anh D1 chưa trả số tiền gốc đã vay.
  6. Anh Trần Quang H10: Từ ngày 04/11/2023 đến ngày 18/12/2023, H đã chuyển tiền cho H1 để cho anh H10 vay số tiền 30.000.000 đồng, với lãi suất 5000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, khi cho vay không có thế chấp, đã trả tiền mặt, chuyển khoản tổng số tiền lãi là 7.500.000 đồng, mức tiền lãi được Nhà nước cho phép là 739.726 đồng, thu lợi bất chính số tiền 6.760.274 đồng. Đến nay, anh H10 chưa trả số tiền gốc đã vay.
  7. Anh Nguyễn Hữu P1: Từ ngày 31/3/2023 đến ngày 18/12/2023, H đã chuyển tiền cho H1 để cho anh P1 vay số tiền 20.000.000 đồng, với lãi suất 3000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, khi cho vay không có thế chấp, đã trả tiền mặt, chuyển khoản tổng số tiền lãi là 16.200.000 đồng, mức tiền lãi được Nhà nước cho phép là 2.882.192 đồng, thu lợi bất chính số tiền 13.317.808 đồng. Đến nay, anh P1 chưa trả số tiền gốc đã vay.
  8. Anh Đặng Văn C3: Từ ngày 21/6/2023 đến ngày 18/12/2023, H đã chuyển tiền cho H1 để cho anh C3 vay số tiền 15.000.000 đồng, với lãi suất 5000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, khi cho vay không có thế chấp, đã trả tiền mặt, chuyển khoản tổng số tiền lãi là 11.250.000 đồng, mức tiền lãi được Nhà nước cho

7

phép là 1.487.671 đồng, thu lợi bất chính số tiền 9.762.329 đồng. Đến nay, anh C3 chưa trả số tiền gốc đã vay.

Thứ ba, 11 giao dịch cả H, H1, T1 cùng nhau thực hiện việc cho vay, lập hợp đồng vay, thu tiền của khách hàng, đã thu lời bất chính tổng số tiền của 11 giao dịch là 112.867.116 đồng. Trong 11 giao dịch này có 06 giao dịch do T1 trực tiếp lập hợp đồng, đưa tiền cho khách vay và thu tiền lãi của khách vay rồi chuyển tiền thu cho H1 để H1 tổng hợp chuyển cho H và 05 giao dịch H1 trực tiếp lập hợp đồng, đưa tiền cho khách vay, thu lãi rồi chuyển cho H tổng hợp còn T1 cùng với H1 đi xem xét thẩm định nhà của khách trước khi cho vay. 06 giao dịch do T1 trực tiếp thực hiện việc lập hợp đồng gồm có:

  1. Anh Nguyễn Xuân T9: Từ ngày 04/5/2022 đến ngày 18/12/2023, H đã chuyển tiền cho T1 để cho anh T9 vay số tiền 10.000.000 đồng, với lãi suất 5000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, khi cho vay không có thế chấp, đã trả tiền mặt, chuyển khoản tổng số tiền lãi cho T1, H1 là 28.500.000 đồng, mức tiền lãi được Nhà nước cho phép là 3.254.795 đồng, thu lợi bất chính số tiền 25.245.205 đồng. Đến nay, anh T9 chưa trả số tiền gốc đã vay.
  2. Anh Nguyễn Xuân T10: Từ ngày 29/3/2022 đến ngày 18/12/2023, H đã chuyển cho T1 để cho anh T10 vay số tiền 30.000.000 đồng, với lãi suất 5000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, khi cho vay không có thế chấp, đã trả tiền mặt, chuyển khoản tổng số tiền lãi cho T1 là 75.610.000 đồng, mức tiền lãi được Nhà nước cho phép là 10.356.164 đồng, thu lợi bất chính số tiền 65.253.836 đồng. T1 thu tiền lãi rồi chuyển cho H1 tổng hợp và chuyển lại cho H. Đến nay, anh T10 chưa trả số tiền gốc đã vay.
  3. Anh Nguyễn Huy H6: Từ ngày 24/7/2023 đến ngày 18/12/2023, H đã chuyển tiền cho T1 để cho anh H6 vay số tiền 10.000.000 đồng, với lãi suất 5000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, khi cho vay không có thế chấp, đã trả tiền mặt, chuyển khoản tổng số tiền lãi cho T1, H1 là 6.500.000 đồng, mức tiền lãi được Nhà nước cho phép là 810.959 đồng, thu lợi bất chính số tiền 5.689.041 đồng. T1 thu tiền lãi rồi chuyển cho H1 tổng hợp và chuyển lại cho H. Đến nay, anh H6 chưa trả số tiền gốc đã vay.
  4. Anh Dương Giáp C1: Từ ngày 29/6/2023 đến ngày 18/12/2023, H đã chuyển tiền cho T1 để cho anh C1 vay số tiền 10.000.000 đồng, với lãi suất 5000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, khi cho vay không có thế chấp, đã trả tiền mặt, chuyển khoản tổng số tiền lãi là 9.000.000 đồng, mức tiền lãi được Nhà nước cho phép là 947.945 đồng, thu lợi bất chính số tiền 8.052.055 đồng. T1 thu tiền lãi rồi chuyển cho H1 tổng hợp và chuyển lại cho H. Đến nay, anh C1 chưa trả số tiền gốc đã vay.
  5. Anh Nguyễn Mạnh H7: Từ ngày 19/02/2023 đến ngày 18/12/2023, H đã chuyển tiền cho T1 để cho anh H7 vay số tiền 10.000.000 đồng, với lãi suất 5000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, khi cho vay không có thế chấp, đã trả tiền mặt, chuyển khoản tổng số tiền lãi là 15.500.000 đồng, mức tiền lãi được Nhà nước cho phép là 1.660.274 đồng, thu lợi bất chính số tiền 13.839.726 đồng. T1 thu tiền lãi rồi chuyển cho H1 tổng hợp và chuyển lại cho H. Đến nay, anh H7 chưa trả số tiền gốc đã vay.

8

  1. Anh Nguyễn Xuân H8: Từ ngày 02/5/2023 đến ngày 18/12/2023, H đã chuyển tiền cho T1 để cho anh H8 vay số tiền 10.000.000 đồng, với lãi suất 5000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, khi cho vay không có thế chấp, đã trả tiền mặt, chuyển khoản tổng số tiền lãi là 12.000.000 đồng, mức tiền lãi được Nhà nước cho phép là 1.265.753 đồng, thu lợi bất chính số tiền 10.734.247 đồng. T1 thu tiền lãi rồi chuyển cho H1 tổng hợp và chuyển lại cho H. Đến nay, anh H8 chưa trả số tiền gốc đã vay.

Đối với 05 giao dịch do H1 trực tiếp thực hiện việc lập hợp đồng gồm có:

  1. Anh Nguyễn Thành T4: Từ ngày 25/7/2023 đến ngày 18/12/2023, H đã chuyển tiền cho H1 để cho anh T4 vay số tiền 10.000.000 đồng, với lãi suất 5000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, khi cho vay không có thế chấp, đã trả tiền mặt, chuyển khoản tổng số tiền lãi là 6.500.000 đồng, mức tiền lãi được Nhà nước cho phép là 805.479 đồng, thu lợi bất chính số tiền 5.694.521 đồng. Trước khi quyết định cho vay, T1 và H1 đến nhà anh T4 để xem xét, thẩm định. Đến nay, anh T4 chưa trả số tiền gốc đã vay.
  2. Chị Nguyễn Thu H3: Từ ngày 29/4/2023 đến ngày 18/12/2023, H đã chuyển tiền cho H1 để cho chị H3 vay số tiền 10.000.000 đồng, với lãi suất 5000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, khi cho vay không có thế chấp, đã trả tiền mặt, chuyển khoản tổng số tiền lãi là 11.500.000 đồng, mức tiền lãi được Nhà nước cho phép là 1.282.192 đồng, thu lợi bất chính số tiền 10.217.808 đồng. Trước khi quyết định cho vay, T1 và H1 đến nhà chị H3 để xem xét, thẩm định. Đến nay, chị H3 chưa trả số tiền gốc đã vay.
  3. Anh Tống Văn N5: Từ ngày 24/8/2023 đến ngày 18/12/2023, H đã chuyển tiền cho H1 để cho anh N5 vay số tiền 5.000.000 đồng, với lãi suất 5000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, khi cho vay không có thế chấp, đã trả tiền mặt, chuyển khoản tổng số tiền lãi là 3.000.000 đồng, mức tiền lãi được Nhà nước cho phép là 320.548 đồng, thu lợi bất chính số tiền 2.679.452 đồng. Trước khi quyết định cho vay, T1 và H1 đến nhà anh N5 để xem xét, thẩm định. Đến nay, anh N5 chưa trả số tiền gốc đã vay.
  4. Anh Nguyễn Văn L3: Từ ngày 14/7/2023 đến ngày 18/12/2023, H đã chuyển tiền cho H1 để cho anh L3 vay số tiền 5.000.000 đồng, với lãi suất 5000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, khi cho vay không có thế chấp, đã trả tiền mặt, chuyển khoản tổng số tiền lãi là 3.750.000 đồng đồng, mức tiền lãi được Nhà nước cho phép là 432.877đồng, thu lợi bất chính số tiền 3.317.123 đồng. Trước khi quyết định cho vay, T1 và H1 đến nhà anh L3 để xem xét, thẩm định. Đến nay, anh L3 chưa trả số tiền gốc đã vay.
  5. Anh Nguyễn Quý D: Từ ngày 13/03/2023 đến ngày 18/12/2023, H đã chuyển tiền cho H1 để cho anh D vay số tiền 20.000.000 đồng, với lãi suất 5000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, khi cho vay không có thế chấp, đã trả tiền mặt, chuyển khoản tổng số tiền lãi là 25.000.000 đồng, mức tiền lãi được Nhà nước cho phép là 3.079.452 đồng, thu lợi bất chính số tiền 21.920.548 đồng. Đến nay, anh D chưa trả số tiền gốc đã vay.

Như vậy, Trần Thế H đã cho 27 khách vay với tổng số tiền cho vay là 515.000.000 đồng, đã thu tiền lãi tổng số 555.260.000, số tiền lãi theo quy định pháp

9

luật 72.356.164 đồng, số tiền thu lời bất chính là 482.903.836 đồng. H và H1 đã cho 23 khách vay tổng số tiền cho vay là 295.000.000 đồng, đã thu tiền lãi tổng số 326.760.000, số tiền lãi theo quy định pháp luật 41.249.315 đồng, số tiền thu lời bất chính là 285.510.685 đồng. H, H1, T1 đã cho 11 khách vay tổng số tiền cho vay là 130.000.000 đồng, đã thu tiền lãi tổng số 196.860.000, số tiền lãi theo quy định pháp luật 24.216.438 đồng, số tiền thu lời bất chính là 172.643.562 đồng.

Với nội dung trên, bản Cáo trạng số 53/CT-VKSQV ngày 22/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành đã truy tố Trần Thế H, Nguyễn Văn H1, Phạm Hồng T1 về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 của Bộ Luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo H, H1, T1 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi cho vay lãi nặng của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, trong đó bị cáo H thừa nhận đã cho 27 khách hàng vay tiền; bị cáo H1 thừa nhận đã cùng H cho 23 khách hàng vay tiền; bị cáo T1 thừa nhận đã cùng H, H1 cho 11 khách hàng vay tiền. Các bị cáo đều thừa nhận Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội.

Về phía anh Uông Đình L4 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà trình bày xác nhận lời khai của các bị cáo là đúng, hiện nay anh chưa trả cho các bị cáo số tiền gốc đã vay, nay anh yêu cầu đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác đều vắng mặt tại phiên toà, song quá trình điều tra đều có ý kiến đề nghị xem xét giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội, giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo. Căn cứ vào hành vi phạm tội; tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi; căn cứ vào nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Trần Thế H, Nguyễn Văn H1, Phạm Hồng T1 phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm b, s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt: Bị cáo Trần Thế H từ 120.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng.

Áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm b, i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H1, Phạm Hồng T1 mỗi bị cáo từ 70.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

*,Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự.

Buộc các bị cáo phải có trách nhiệm liên đới hoàn trả cho những người vay tổng số tiền thu lợi bất chính là 482.903.836.000 đồng.

Xác nhận bị cáo Trần Thế H đã nộp đủ số tiền 482.903.836.000 đồng tại Chi cục thi hành án thị xã Thuận Thành theo biên lai thu số 0002325 ngày 22/5/2024. Trách nhiệm liên đới giữa các bị cáo, do các bị cáo xin tự nguyện thỏa thuận giải quyết với nhau nên không đặt ra xem xét.

*, Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

10

Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 72.356.164.000 đồng tiền lãi theo quy định các bị cáo được hưởng. Xác nhận bị cáo H đã tự nguyện nộp đủ theo biên lai thu số 0002325 ngày 22/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự.

Đối với số tiền gốc 515.000.000 đồng mà các bị cáo cho 27 người vay là công cụ phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên có anh L2 đã trả bị cáo H số tiền vay gốc 50.000.000 đồng nên truy thu của H 50.000.000 đồng. Xác nhận bị cáo H đã tự nguyện nộp 9.740.000 đồng theo biên lai thu số 0002325 ngày 22/5/2024, H còn phải nộp 40.260.000 đồng. Số gốc còn lại 465.000.000 đồng cần truy thu của 26 người vay (do 26 người vay chưa trả gốc cho các bị cáo).

Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 13 PRO; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A71; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPNE 11 do liên quan đến việc phạm tội.

Đối với 01 đĩa DVD bên trong chứa nội dung 27 hợp đồng cho vay tiền được niêm phong theo quy định là chứng cứ của vụ án cần tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án.

Đối với 01 căn cước công dân mang tên Trần Thế H; 01 thẻ ngân hàng mang tên Trần Thế H của ngân hàng V1 đề nghị trả lại bị cáo.

Tiếp tục phong tỏa tài khoản V1 số 0351000925077 có số tiền 29.015.204 đồng của Trần Thế H để đảm bảo thi hành án.

Sau khi nghe đề nghị của Kiểm sát viên, các bị cáo và anh Uông Đình L4 đều không có ý kiến tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát: Trong lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên các quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người mà các bị cáo đã cho vay tiền cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ để kết luận:Trong khoảng thời gian từ ngày 29/03/2022 đến ngày 28/11/2023 Trần Thế H, Nguyễn Văn H1, Phạm Hồng T1 cùng nhau thực hiện hành vi cho vay lãi với lãi suất từ 3.000 đồng/01 triệu/01 ngày đến 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày, cao gấp 5,48 lần đến 9,124 lần so với quy định mức lãi suất cao nhất của Nhà nước được quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự, trong đó: Trần Thế H đã cho 27 khách vay với tổng số tiền cho vay là 515.000.000 đồng, đã thu tiền lãi tổng

11

số 555.260.000, số tiền lãi theo quy định pháp luật 72.356.164 đồng, số tiền thu lời bất chính là 482.903.836 đồng. Trong đó, có 04 khách vay do H trực tiếp cho vay với tổng số tiền cho vay là 220.000.000 đồng, đã thu tiền lãi tổng số 228.500.000, số tiền lãi theo quy định pháp luật 31.106.849 đồng, số tiền thu lời bất chính là 197.393.151 đồng.

Nguyễn Văn H1 đã cùng với Trần Thế H cho 23 khách vay tổng số tiền cho vay là 295.000.000 đồng, đã thu tiền lãi tổng số 326.760.000, số tiền lãi theo quy định pháp luật 41.249.315 đồng, số tiền thu lời bất chính là 285.510.685 đồng.

Phạm Hồng T1 đã cùng với H và H1 cho 11 khách vay tổng số tiền cho vay là 130.000.000 đồng, đã thu tiền lãi tổng số 196.860.000, số tiền lãi theo quy định pháp luật 24.216.438 đồng, số tiền thu lời bất chính là 172.643.562 đồng.

Do vậy hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” vì vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành truy tố các bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ Luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3]. Về nguyên nhân, mục đích, tính chất của hành vi phạm tội:

Các Bị cáo phạm tội với mục đích thu lợi bất chính, lấy việc cho vay lãi nặng để thu lợi cho bản thân mà bất chấp các quy định của pháp luật về lãi suất cho vay. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho cộng đồng và xã hội, đã xâm phạm trật tự quản lý tài chính của Nhà nước, gây rối loạn các giao dịch dân sự lành mạnh, làm ảnh hưởng xấu đến lợi ích của người dân khi tham gia các giao dịch dân sự vay tiền, gây ra nhiều hệ lụy xấu cho xã hội. Hành vi cho vay lãi nặng cũng là nguyên nhân dẫn đến các hoạt động băng đảng, đòi nợ thuê, gây mất trật tự trị an xã hội. Do vậy hành vi của các bị cáo phải được xử lý nghiêm khắc bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về tính chất đồng phạm trong vụ án: Căn cứ vào cách thức thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo thấy rằng trước, trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công cụ thể, không có sự cấu kết chặt chẽ; chỉ là bột phát, ai có khách vay thì chủ động báo với H và làm thủ tục vay, đôn đốc việc trả nợ nên hành vi của các bị cáo chỉ là đồng phạm giản đơn, không phải là đồng phạm có tính tổ chức.

Xét vai trò của từng bị cáo: Bị cáo H giữ vai trò chính: Bị cáo H khởi xướng việc cho vay, toàn bộ nguồn tiền cho vay là của bị cáo H, tiếp đến là vai trò của bị cáo H1 bởi phần lớn khách hàng vay là do bị cáo H1 giới thiệu, bị cáo H1 là người lập hợp đồng và quản lý thu nợ, thu lãi phần lớn trong số 27 khách hàng vay. Đối với T1 và H1 đều là người giúp sức tích cực cho H trong việc cho vay lãi và thu nợ, thu lãi do vậy khi quyết định hình phạt cần có mức hình phạt đối với bị cáo H cao hơn, còn đối với H1 và T1 cần cho mức hình phạt ngang nhau.

[4]. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:

Các bị cáo là người có nhân thân tốt. Sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện cả 3 bị cáo đều đến Công an thị xã T đầu thú. Quá trình làm việc theo đơn trình báo của khách vay Nguyễn Văn L2, bị cáo H tự thú về hành vi cho 26 khách hàng khác vay tiền khi chưa bị phát hiện, bị cáo thành khẩn khai báo, ngày 22/5/2024 bị cáo đã tự

12

nguyện nộp số tiền 565.000.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành nhằm khắc phục hậu quả; bị cáo có mẹ là Nguyễn Thị V tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước được tặng thưởng Huy chương kháng chiến nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo T1, H1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra, truy tố các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có ý thức cùng bị cáo H khắc phục hậu quả, tác động đến bị cáo H nộp lại toàn bộ số tiền lãi được hưởng từ việc cho vay nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Trần Thế H phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Nguyễn Văn H1, Phạm Hồng T1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5]. Căn cứ tính chất, hành vi và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt bị truy tố đồng thời chỉ cần áp dụng loại hình phạt chính là phạt tiền đối với các bị cáo cũng đủ biện pháp răn đe, giáo dục đối với bị cáo.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền lãi các bị cáo thu của những người vay vượt quá quy định của pháp luật với tổng số tiền là 482.903.836.000 đồng được xác định là tiền thu lợi bất chính, nay cần buộc các bị cáo phải liên đới hoàn trả lại cho 27 người vay tiền của các bị cáo, cụ thể: Buộc các bị cáo phải liên đới trả lại anh Nguyễn Văn L2 48.404.110 đồng; anh Dương Tuấn A 101.465.753 đồng; anh Nguyễn Hồng T2 45.753.425 đồng; anh Trần Văn Đ 1.769.863 đồng; anh Trần Văn T5 7.986.301 đồng; anh Tống Văn Q 3.369.178 đồng; anh Vũ Hồng T6 14.650.685 đồng; anh Vũ Đức T13 5.903.425 đồng; anh Nguyễn Đức N6 2.943.836 đồng; anh Huỳnh Đức H9 19.380.822 đồng; anh Uông Đình L4 9.456.164 đồng; anh Nguyễn Văn K1 12.015.068 đồng; anh Nguyễn Văn D1 7.321.233 đồng; anh Trần Quang H10 6.760.274 đồng; anh Nguyễn Hữu P1 13.317.808 đồng; anh Đặng Văn C3 9.762.329 đồng; anh Nguyễn Xuân T9 25.245.205 đồng; anh Nguyễn Xuân T10 65.253.836 đồng; anh Nguyễn Huy H6 5.689.041 đồng; anh D2 Giáp Công 8.052.055 đồng; anh Nguyễn Mạnh H7 13.839.726 đồng; anh Nguyễn Xuân H8 10.734.247 đồng; anh Nguyễn Thành T4 5.694.521 đồng; chị Nguyễn Thu H3 10.217.808 đồng; anh Tống Văn N5 2.679.452 đồng; anh Nguyễn Văn L3 3.317.123 đồng; anh Nguyễn Quý D 21.920.548 đồng.

Xác nhận bị cáo Trần Thế H đã tự nguyện nộp số tiền trên tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành. Trách nhiệm liên đới giữa các bị cáo, do các bị cáo xin tự nguyện thỏa thuận giải quyết với nhau nên không đặt ra xem xét.

[7]. Về vật chứng của vụ án:

Đối với số tiền 72.356.164.000 đồng là tiền lãi đúng quy định pháp luật song do số tiền này các bị cáo có được là do phát sinh từ hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung Ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 515.000.000 đồng tiền vay gốc các bị cáo cho 27 người vay là công cụ phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên

13

có anh L2 đã trả bị cáo H số tiền vay gốc 50.000.000 đồng nên cần buộc H phải nộp lại 50.000.000 đ để sung Ngân sách Nhà nước. Do bị cáo H đã tự nguyện nộp 9.740.000 đồng theo biên lai thu số 0002325 ngày 22/5/2024 nên H còn phải nộp 40.260.000 đồng. Số tiền gốc còn lại là 465.000.000 đồng 26 người vay chưa trả cho các bị cáo nên cần buộc 26 người vay tiền của các bị cáo phải nộp lại số tiền trên để sung Ngân sách nhà nước, cụ thể: anh Dương Tuấn A phải nộp lại 100.000.000 đồng; anh Nguyễn Hồng T2 phải nộp lại 50.000.000 đồng; anh Trần Văn Đ phải nộp lại 20.000.000 đồng; anh Trần Văn T5 phải nộp lại 10.000.000 đồng; anh Tống Văn Q phải nộp lại 5.000.000 đồng; anh Vũ Hồng T6 phải nộp lại 15.000.000 đồng; anh Vũ Đức T13 phải nộp lại 15.000.000 đồng; anh Nguyễn Đức N6 phải nộp lại 5.000.000 đồng; anh Huỳnh Đức H9 phải nộp lại 10.000.000 đồng; anh Uông Đình L4 phải nộp lại 15.000.000 đồng, anh Nguyễn Văn K1 phải nộp lại 10.000.000 đồng, anh Nguyễn Văn D1 phải nộp lại 15.000.000 đồng; anh Trần Quang H10 phải nộp lại 30.000.000 đồng; anh Nguyễn Hữu P1 phải nộp lại 20.000.000 đồng; anh Đặng Văn C3 phải nộp lại 15.000.000 đồng; anh Nguyễn Xuân T9 phải nộp lại 10.000.000 đồng; anh Nguyễn Xuân T10 phải nộp lại 30.000.000 đồng; anh Nguyễn Huy H6 phải nộp lại 10.000.000 đồng; anh D2 Giáp Công phải nộp lại 10.000.000 đồng; anh Nguyễn Mạnh H7 phải nộp lại 10.000.000 đồng; anh Nguyễn Xuân H8 phải nộp lại 10.000.000 đồng; anh Nguyễn Thành T4 phải nộp lại 10.000.000 đồng; chị Nguyễn Thu H3 phải nộp lại 10.000.000 đồng; anh Tống Văn N5 phải nộp lại 5.000.000 đồng; anh Nguyễn Văn L3 phải nộp lại 5.000.000 đồng; anh Nguyễn Quý D phải nộp lại 20.000.000 đồng.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 13 PRO; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A71; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 thu giữ của các bị cáo có liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 đĩa DVD bên trong chứa nội dung 27 hợp đồng cho vay tiền được niêm phong theo quy định là chứng cứ của vụ án cần lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Đối với 01 căn cước công dân mang tên Trần Thế H; 01 thẻ ngân hàng mang tên Trần Thế H của ngân hàng V1 cần trả lại cho bị cáo H.

Tiếp tục phong tỏa tài khoản V1 số 0351000925077 có số tiền 29.015.204 đồng của Trần Thế H để đảm bảo thi hành án.

[8]. Án phí: Các Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố các bị cáo Trần Thế H, Nguyễn Văn H1, Phạm Hồng T1 phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm b, s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt: Trần Thế H 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng) nộp Ngân sách Nhà nước.

14

Áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn H1, Phạm Hồng T1 mỗi bị cáo 80.000.000đ (T18 mươi triệu đồng) nộp Ngân sách Nhà nước.

2.Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự.

Buộc các bị cáo phải có trách nhiệm liên đới hoàn trả cho những người vay tổng số tiền 482.903.836.000 đồng thu lợi bất chính, cụ thể: Trả lại anh Nguyễn Văn L2 48.404.110 đồng; anh Dương Tuấn A 101.465.753 đồng; anh Nguyễn Hồng T2 45.753.425 đồng; anh Trần Văn Đ 1.769.863 đồng; anh Trần Văn T5 7.986.301 đồng; anh Tống Văn Q 3.369.178 đồng; anh Vũ Hồng T6 14.650.685 đồng; anh Vũ Đức T13 5.903.425 đồng; anh Nguyễn Đức N6 2.943.836 đồng; anh Huỳnh Đức H9 19.380.822 đồng; anh Uông Đình L4 9.456.164 đồng; ông Nguyễn Văn K1 12.015.068 đồng; anh Nguyễn Văn D1 7.321.233 đồng; anh Trần Quang H10 6.760.274 đồng; anh Nguyễn Hữu P1 13.317.808 đồng; anh Đặng Văn C3 9.762.329 đồng; anh Nguyễn Xuân T9 25.245.205 đồng; anh Nguyễn Xuân T10 65.253.836 đồng; anh Nguyễn Huy H6 5.689.041 đồng; anh D2 Giáp Công 8.052.055 đồng; anh Nguyễn Mạnh H7 13.839.726 đồng; anh Nguyễn Xuân H8 10.734.247 đồng; anh Nguyễn Thành T4 5.694.521 đồng; chị Nguyễn Thu H3 10.217.808 đồng; anh Tống Văn N5 2.679.452 đồng; anh Nguyễn Văn L3 3.317.123 đồng; anh Nguyễn Quý D 21.920.548 đồng.

Xác nhận các bị cáo đã nộp đủ số tiền 482.903.836.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành theo biên lai thu số 0002325 ngày 22/5/2024.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu sung Ngân sách nhà nước số tiền 72.356.164.000 đồng tiền lãi theo quy định các bị cáo được hưởng. Xác nhận bị cáo H đã tự nguyện nộp đủ số tiền trên theo biên lai thu số 0002325 ngày 22/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự.

Buộc bị cáo Trần Thế H phải nộp lại số tiền vay gốc 50.000.000 đồng của anh L2 đã trả bị cáo để sung Ngân sách Nhà nước. Xác nhận bị cáo H đã tự nguyện nộp 9.740.000 đồng theo biên lai thu số 0002325 ngày 22/5/2024, H còn phải nộp 40.260.000 đồng.

Buộc 26 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải nộp lại 465.000.000đ để sung Ngân sách Nhà nước, cụ thể: anh Dương Tuấn A phải nộp lại 100.000.000 đồng; anh Nguyễn Hồng T2 phải nộp lại 50.000.000 đồng; anh Trần Văn Đ phải nộp lại 20.000.000 đồng; anh Trần Văn T5 phải nộp lại 10.000.000 đồng; anh Tống Văn Q phải nộp lại 5.000.000 đồng; anh Vũ Hồng T6 phải nộp lại 15.000.000 đồng; anh Vũ Đức T13 phải nộp lại 15.000.000 đồng; anh Nguyễn Đức N6 phải nộp lại 5.000.000 đồng; anh Huỳnh Đức H9 phải nộp lại 10.000.000 đồng; anh Uông Đình L4 phải nộp lại 15.000.000 đồng, ông Nguyễn Văn K1 phải nộp lại 10.000.000 đồng, anh Nguyễn Văn D1 phải nộp lại 15.000.000 đồng; anh Trần Quang H10 phải nộp lại 30.000.000 đồng; anh Nguyễn Hữu P1 phải nộp lại 20.000.000 đồng; anh Đặng Văn C3 phải nộp lại 15.000.000 đồng; anh Nguyễn Xuân T9 phải nộp lại 10.000.000 đồng; anh Nguyễn Xuân T10 phải nộp lại 30.000.000 đồng; anh Nguyễn Huy H6 phải nộp lại 10.000.000 đồng; anh D2 Giáp Công phải nộp lại 10.000.000

15

đồng; anh Nguyễn Mạnh H7 phải nộp lại 10.000.000 đồng; anh Nguyễn Xuân H8 phải nộp lại 10.000.000 đồng; anh Nguyễn Thành T4 phải nộp lại 10.000.000 đồng; chị Nguyễn Thu H3 phải nộp lại 10.000.000 đồng; anh Tống Văn N5 phải nộp lại 5.000.000 đồng; anh Nguyễn Văn L3 phải nộp lại 5.000.000 đồng; anh Nguyễn Quý D phải nộp lại 20.000.000 đồng.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có trách nhiệm liên hệ với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành để nhận lại số tiền được hoàn trả và thực hiện việc đối trừ phần nghĩa vụ phải thi hành án.

Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 13 PRO; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A71; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 liên quan đến việc phạm tội.

Trả lại bị cáo Trần Thế H 01 căn cước công dân mang tên Trần Thế H; 01 thẻ ngân hàng mang tên Trần Thế H của ngân hàng V1.

Tiếp tục phong tỏa tài khoản V1 số 0351000925077 có số tiền 29.015.204 đồng của Trần Thế H theo Lệnh phong toả số 01 ngày 20/12/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T để đảm bảo việc thi hành án.

(Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 18/6/2024 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã)

4. Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niên yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận

  • -TAND tỉnh Bắc Ninh.
  • -VKSND tỉnh Bắc Ninh.
  • -Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh.
  • -VKSND thị xã Thuận Thành.
  • -Công an thị xã Thuận Thành.
  • -Chi cục THA dân sự thị xã Thuận Thành.
  • -Những người tham gia tố tụng.
  • -Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa.

Hoàng Tuấn Anh

16

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/HSST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH - TỈNH BẮC NINH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 57/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH - TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thế H cùng đồng phạm cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger